Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

Rate this post
  1. Một số vấn đề về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện hay

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước. Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là sự kiểm soát của nhân dân và xã hội; kiểm soát từ bên trong là sự kiểm soát do nhà nước thực hiện.

Hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước ta đã được thiết lập từ khi Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời cho đến nay. Ở nước ta hiện nay vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước được đặt ra trong điều kiện nhà nước của giai cấp công nhân, trong điều kiện xây dựng CNXH. Do quyền lực chính trị thống nhất cao với quyền lực nhà nước nên vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trước hểt được đặt ra là hệ thống giám sát của Quốc hội và HĐND, kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, phán quyết của cơ quan tài phán, kiểm sát của VKSND, giám sát của MTTQ, kiểm tra của Đảng. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước, hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân, người chủ của quyền lực có khả năng kiểm soát quyền lực đó. Các tổ chức xã hội có những quyền hạn rộng hơn trong việc kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Các cá nhân cũng có khả năng rất lớn trong lĩnh vực này theo quy định của pháp luật, hệ thống tự kiểm tra giám sát của nhà nước cũng được tổ chức khá chặt chẽ. Mặc dù vậy, thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nuớc của chúng ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề về nhận thức, phương thức tổ chức, hoạt động và hiệu quả của nó được thể hiện trên những vấn đề sau:

Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, thể hiện ở những báo cáo trình Quốc hội, UBTVQH hiện nay là còn mang tính khép kín, hoàn toàn do Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội và đại biểu bàn luận, thiếu sự tham khảo từ nhân dân, từ công luận; Tính công khai dân chủ trong hoạt động của nhà nước còn hạn hẹp; Chất vấn của đại biểu Quốc hội qua hai kỳ họp là rất ít và bị hạn chế nhiều mặt. Nhiều chất vấn sa vào những vấn đề cụ thể mà nhân sự cao cấp của quốc hội không biết để trả lời ngay được (những vụ án tư pháp hình sự chẳng hạn). Có những chất vấn không đúng đối tượng, do đại biểu Quốc hội không nắm vững chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước; hoạt động giám sát ở các địa phương còn hạn chế, kiến nghị qua giám sát chưa được đối tượng bị giám sát tiếp thu để khắc phục những thiếu sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho cơ quan địa phương ở cơ sở.

Hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội còn có hạn chế nhất định, nhất là giám sát việc ban hành văn bản của cơ quan hữu quan chưa làm được nhiều. Các kiến nghị qua các đợt giám sát đôi khi chưa được cơ quan hữu quan thực hiện. Hiện nay, chức năng giám sát của HĐND có xu hướng được tăng cường, hoàn chỉnh và rõ ràng hơn, mặc dù vậy giám sát của HĐND còn có một số hạn chế trên cả hai phương diện pháp luật và thực hiện pháp luật.

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc trong những năm qua đã đã triển khai thực hiện hoạt động giám sát toàn diện trên một số lĩnh vực như: Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật; hoạt động tư pháp; giải quyết đơn thư khiếu nại, tổ cáo; hoạt động của đại biêu dân cử; thực thi chính sách, pháp luật. Tuy nhiên hiệu quả chưa được như mong đợi, chưa thể hiện hết vai trò giám sát của MTTQ.

Hoạt động giám sát của cơ quan tài phán chưa thật sự hiệu quả, thể hiện ở công tác kiểm sát xét xử có những tồn tại của nó; tòa hành chính chưa phát huy được hiệu quả hoạt động như mong đợi; số lượng vụ việc được thụ lý giải quyết rất nhỏ, trong khi đó khiếu kiện hành chính lại rất nhiều và phần lớn lại không đủ điều kiện đế giải quyết theo luật định.

Giám sát của công dân đối với bộ máy nhà nước thông qua tổ chức Thanh tra nhân dân và thực hiện quyền khiếu nại – tố cáo nổi lên vấn đề nhận thức chưa đầy đủ trong các quy định về thanh tra nhân dân, không đủ khả năng vì không có chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra, không đủ kiến thức pháp luật, không có kinh phí, phương tiện để hoạt động, không có cơ chế bảo vệ chống sự trù dập; có sự lẫn lộn giữa Thanh tra nhân dân với Thanh tra của Thủ trường. Có sự nhầm lẫn giữa hoạt động thanh tra nhân dân với các hình thức hòa giải tư pháp và các hoạt động mang tính giám sát của quần chúng.

Tình hình khiếu nại – tố cáo trong thời gian qua đã phát sinh nhiều vụ việc và diễn biến gay gắt, phức tạp, tình trạng khiếu kiện đông người vẫn gia tăng, nhiều vụ việc đã được các cấp, ngành có thẩm quyền tập trung giải quyết nhưng vẫn không dứt điểm. Nhiều địa phương vẫn tiếp tục phát sinh những điểm phức tạp, điểm nóng.

Công tác tiếp dân ở một số địa phương, đơn vị chưa thật quan tâm đầy đủ, chưa gắn chặt giữa tiếp dân thường xuyên, tiếp dân của thủ trưởng với công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc tiếp công dân đến trực tiếp khiếu kiện nhiều nơi nhìn chung còn hình thức, kém hiệu quả. Không ít nơi còn tư tưởng khoán trắng cho cán bộ tiếp dân hoặc cơ quan chức năng.

Công tác kiểm tra của cấp ủy Đảng các cấp: Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của Đảng, cấp ủy Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tuy nhiên công tác kiểm tra của Đảng còn bộc lộ một số hạn chế như: Còn nhiều cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ về công tác kiểm tra, buông lỏng sự lãnh đạo, thậm chí vẫn “khoán trắng” cho ủy ban kiểm tra. Nhiều cấp ủy viên còn ngại khó, nẻ tránh, hữu khuynh, không muốn làm kiểm tra; thậm chí có cán bộ, đảng viên nhận thức còn lệch lạc, không tự giác tiến hành kiểm tra, còn lẩn tránh, đối phó khi có sự kiểm tra của cấp trên, một số nơi còn có tinh trạng bao che, dung túng trong hoạt động kiểm tra của Đảng.

Hoạt động Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính chưa xác định được đúng đối tượng, mục đích, phạm vi cũng như quyền lực trong hoạt động thanh tra; hoạt động thanh tra phát hiện ra nhiều vi phạm, các tổ chức thanh tra cũng có nhiều kiến nghị, quyết định xử lý nhưng thực tế hiệu lực vẫn còn thấp. Hoạt động thanh tra thực chất là sự kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước mà đổi tượng bị kiểm tra giám sát là cơ quan quản lý nhà nước cho nên hiệu lực không cao là điều khó tránh khỏi do tính chất của hoạt động quản lý có phạm vi rất rộng và quản lý trực tiếp các nguồn lực con người và tài chính cho nên các cơ quan quản lý có quyền hạn thực tế rất lớn.

Hoạt động kiểm toán nhà nước chưa phân định phạm vi hoạt động kiểm toán với hoạt động thanh tra tài chính, thanh tra tài chính vốn là chức năng quản lý thiết yếu của nhà nước. Trong khi đó hoạt động kiểm toán chỉ giới hạn ở phạm vi kiểm tra kế toán đối với những cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí nhà nước cấp hoặc tài sản của nhà nước.

Những vấn đề trên tác động không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng hiệu quả của việc thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Nhà nước ta hiện nay, ảnh hưởng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong tình hình mới.

  • Những giải pháp cơ bản đế thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước

Trong giai đoạn hiện nay, trước những yêu cầu ngày càng cao của xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi Đảng phải nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo đối với Nhà nước, trong đó phát huy vai trò của Đảng trong kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung rất quan trọng. Trên cơ sở thực trạng về kiểm soát quyền lực thời gian qua và trước yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng ta phải có hệ thống giải pháp để kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước, góp phần chống tha hóa quyền lực, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Trong phạm vi bài viết này xin nêu một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả việc kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay.

2.2.1 Đổi mới nhận thức về tổ chức và hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước.

Tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, là sự phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp, trên cơ sở phối hợp để đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, về sự phân công và phối hợp được xác định trong bộ máy nhà nước. Khi có sự phân công rồi thì phải kiểm soát (theo dõi, kiểm tra, thanh tra…) bảo đảm cho các cơ quan có quyền này đi làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, không vượt qua khỏi phạm vi, thẩm quyền, tính chất và chức năng đã được xác định. Như vậy, sự phân công, phân cấp, phân quyền đều phải gắn liền với sự kiếm soát quyền lực. Tức là ở đâu có quyền lực nhà nước ở đó phải có sự kiểm soát.

Có sự thống nhất trong nhận thức về bản chất của kiểm soát quyền lực (bản chất của thanh tra, kiểm tra, kiểm soát…) là biện pháp thực thi quyền lực nhà nước nó có ý nghĩa cho cả lý luận và thực tiễn bởi vì: Điều đó xác định đúng vị trí, vai trò của hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra trong việc thực thi quyền lực nhà nước.

Đây là cơ sở và căn cứ để phân định một cách khoa học chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của hệ thống kiểm soát quyền lực; xây dựng được cơ sở pháp lý cho việc thiết kế mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát. Từ đó chúng ta thấy rằng, hoạt động kiểm soát quyền lực không thể do một vài cơ quan đảm nhận mà phải do nhiều cơ quan, tổ chức tiến hành, được thực hiện bởi nhiều, hình thức, quy mô với tư cách là phương thức thực thi quyền lực nhà nước.

Để kiểm soát quyền lực có hiệu quả thì trước hết phải kiểm soát quyền lực từ chính nhà nước và sau đó là từ xã hội công dân thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động, nhưng phải tránh chồng chéo, phải đảm bảo được nguyên tắc pháp lý chung “những vấn đề đã thuộc thẩm quyền của cơ quan này thì sẽ không đồng thời thuộc thẩm quyền của cơ quan khác”. Vì vậy, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đang là vấn đề cấp bách hiện nay. Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hợp lý phải phát huy được hiệu quả hoạt động của cả hệ thống và từng cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát. Các phương thức hoạt động của từng loại hình cơ quan phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan phải đảm bảo rõ ràng, rành mạch, không bỏ trống, bở sót, chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động giữa các cơ quan; phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, các vụ việc được giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền.

2.2.2. Hoàn thiện hoạt động giám sát của Quốc hội đối với văn bản pháp luật, trên quan điểm tổng thể, cần tập trung vào các khâu sau:

Hoàn thiện cơ chế thấm định và thấm tra dự án, dự thảo văn bản pháp luật: Đây là một khâu quan trọng trong quá trình giám sát việc ban hành văn bản pháp, luật, đặc biệt là văn bản quy phạm pháp luật. Đối với các văn bản do Quốc hội và UBTVQH trực tiếp ban hành thì cơ quan thẩm dịnh là Bộ tư pháp và cơ quan thẩm tra do Quốc hội, UBTVQH quyết định thường là Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội hoặc các ủy ban lâm thời.

Cải tiến thủ tục Quốc hội xem xét bãi bỏ văn bản trái Hiến pháp và pháp luật. Nghiên cứu thành lập các thiết chế chuyên trách giúp Quốc  xem xét quyết định bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản pháp luật trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH nêu trên thì có thể thấy thủ tục này quá rườm rà. cần chỉ tập trung vào một vài đầu mối (chẳng hạn, Chủ tịch nước, UBTVQH) thực hiện việc đề nghị Quốc hội, UBTVQH bãi bỏ văn bản. Thành lập Ủy ban chuyên trách thuộc Quốc hội để xem xét (giám sát) có tính chuyên sâu các văn bản pháp luật, có thể tự mình hoặc đề nghị Quốc hội, UBTVQH bãi bỏ văn bản sai trái, nếu cứ để cho nhiều cơ quan có thẩm quyền đề nghị như hiện nay thì rất ít hiệu quả. Cơ quan này có thể là ủy ban giám sát Hiến pháp thuộc Quốc hội.

Tăng cường vai trò giám sát của Tòa án nhân dân và Hội đồng nhân dân: Cần bổ sung vai trò của Tòa án nhân dân trong việc xét xử văn bản quy phạm pháp luật sai trái bị kiện. Xét trên tất cả các mặt, Tòa án nhân dân có thể và cần phải đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện quyền này. Điều này cũng phù hợp với xu thế tăng cường vai trò của Tòa án trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đối với Hội đồng nhân dân các cấp: cần nâng cao hơn nữa vai trò của Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát văn bản pháp luật ở địa phương. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát tính hợp hiến, họp pháp của các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang ở địa phương, song trước hết và chủ yếu là giám sát hệ thống văn bản pháp luật do các cơ quan chính quyền địa phương ban hành.

2.2.3 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực phái dựa trên cơ sở hoàn thiện cơ chế quản lý.

Quản lý gắn liền với cơ chế kinh tế, với điều kiện xã hội cụ thể (trình độ kinh tế và dân trí, trình độ quản lý, tính kỷ cương và truyền thống luật pháp…). Thanh tra, kiểm tra, giám sát lại gắn liền với quản lý, nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu quản lý.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra, kiểm tra, giám sát cho thấy: nội dung quản lý quyết định nội dung của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát; phân cấp quản lý là cơ sở, là tiền đề và căn cứ để xác định phạm vi, đối tượng, nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát; quản lý quy định cơ chế và chi phối phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát: tiếp nhận hoặc không tiếp nhận kết quả thanh tra, kiếm tra, giám sát. Mặt khác, mặc dù bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý, nhưng đồng thời thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng có tác động trở lại, góp phần điều chỉnh các cách thức, phương pháp quản lý, bổ sung, hoàn thiện chính nội dung quản lý và nó đưa đến hệ quả: thanh tra, kiểm tra, giám sát chính là một trong những công cụ để đánh giá hiệu quả của quản lý.

          2.2.4 Đổi mới giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành pháp nhà nước

Cần xác định khái niệm, chủ thể, phạm vi, hình thức, nội dung, đối tượng của hoạt động giám sát của Quốc hội. Từ đó phân biệt phạm vi, hình thức và đối tượng giám sát của Quốc hội và thanh tra Chính phủ. Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ đương nhiên thuộc đối tượng bị giám sát của Quốc hội nói chung, của UBTVQH nói riêng. Còn trong quan hệ với Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, có phải là đối tượng bị giám sát của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của quốc hội hay không, vấn đề này cần làm rõ. Về nguyên tắc, Quốc hội có quyền giám sát mọi hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan hành chính nhà nước. Trong khi đó, Chính phủ có quyền thanh tra hoạt động của tất cả các cơ quan hành chính và các hoạt động công vụ. Suy cho cùng hoạt động thanh tra của Chính phủ cũng là hoạt động nhằm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, luật, pháp lệnh và Nghị quyết của Quốc hội. Cần thay đổi cơ cấu tổ chức và xác định rõ thẩm quyền giám sát của cơ quan làm công tác giám sát của Quốc hội nhằm một mặt tăng thêm thẩm quyền cho các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực giám sát, mặt khác, thành lập thêm một ủy ban chuyên trách về giám sát. Do đó, cần có quy định trong Hiển pháp và luật nên tăng thêm thẩm quyền của UBTVQH có quyền xem xét và bãi bỏ các văn bản pháp quy do Chính phủ ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH.

Quy định trách nhiệm, chế độ, hình thức báo cáo và số lượng văn bản cần báo cáo, quy trình thẩm định báo cáo và quy định trách nhiệm nếu báo cáo không đạt tiêu chuẩn, sai lệch thông tin, thông tin không đầy đủ, thông tin chậm, ở đây cần lưu ý đến nội dung báo cáo, cần cụ thể, đi thẳng vào vấn đề, tránh tình trạng chung chung, phải có chế tài đối với việc báo cáo không trung thực.

2.2.5 Hoàn hiện mô hình thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp

Quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp chỉ được thực hiện đầy đủ nhất, giải quyết những vấn đề phát sinh qua giám sát ở mức độ quyền lực cao nhất tại kỳ họp với sự tham gia của tất cả các đại biểu Quốc hội. Đặc trưng của quyền giám sát tối cao trong đó có quyền giám sát của Quốc hội đối với các hoạt động tư pháp là có tính liên tục. Do đó, để đảm bảo tính liên tục của quyền lực thì phải có những tổ chức nhất định do Quốc hội bầu ra để đảm đương những công việc giữa hai kỳ họp. Theo quy định của pháp luật hiện hành. UBTVQH, ủy ban pháp luật của Quốc hội là những cơ quan thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp giữa hai kỳ họp. Các hoạt động giám sát của UBTVQH, ủy ban pháp luật của Quốc hội cũng phải có mối liên hệ hữu cơ và làm căn cứ cho hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp. Nếu tách rời mối liên hệ hữu cơ này thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội không có điều kiện thực hiện.

UBTVQH là cơ quan Thường trực của Quốc hội có quyền lực hạn chế khi tiến hành giám sát như: đình chỉ, hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật của TANDTC, VKSNDTC. Căn cứ vào kết quả giám sát, UBTVQH cũng có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp lệnh, nghị quyết để điều chỉnh biên chế, tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, bộ máy giúp việc của một số cơ quan tư pháp.

Nâng cao năng lực hoạt động đại biếu Quốc hội. Để thực hiện tốt các hình thức giám sát này, đại biểu Quốc hội phải là người am hiểu cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, các quy chế về hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên, chấp hành viên và các chức danh khác làm việc trong cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp. Đồng thời đại biểu phải thu nhận được tối đa nguyện vọng chính đáng của cử tri về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp.

2.2.6 Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung, nhưng có sự phân công, phân cấp rành mạnh giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát và quyền công tố nhà nước đều nằm trong phạm vi quyền tư pháp.

Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động hành pháp (chức năng kiểm sát chung), đã chuyển sang Chính phủ đảm nhận. Chức năng kiểm sát văn bản chính là một trong những nội dung quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Việc điều chỉnh như trên, vừa đảm bảo được tính khoa học, lại vừa đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước ta, theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về đổi mới, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Việc điều chỉnh như trên, sẽ giảm bớt được sự cồng kềnh, nặng nề của bộ máy nhà nước; giảm bớt được biên chế; tiết kiệm chi ngân sách cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát: đảm bảo được tính năng động của hoạt động thanh tra, kiểm tra, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong công cuộc đổi mới.

  • Đổi mới tổ chức và hoạt động của quan xét xử hành chính nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của cơ chế tài phán hành chính đổi vớii hoạt động ban hành các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước

Sự ra đời của cơ quan xét xử hành chính đánh dấu một bước phát triển mới trong thiết chế bảo đảm quyền dân chủ của người dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, tránh được sự xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước. Hoạt động tài phán hành chính như một cơ chế kiểm soát trong tổng thể các yếu tố kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Cần mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đến tất cả các lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước; tòa án có thẩm quyền phán quyết về tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp Bộ trở xuống ban hành; xây dựng một hệ thống tòa án hành chính độc lập với hệ thống Tòa án nhân dân hiện nay Đổi mói tổ chức và hoạt động thanh tra, góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước

  • Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

MTTQ các cấp cần tăng thêm người tiêu biểu, người ngoài Đảng trong ủy ban MTTQ. Đồng thời, tăng cường cán bộ chuyên trách có năng lực, có trình độ chuyên môn cao và mở rộng đội ngũ công tác viên là những chuyên gia giỏi (dưới hình thức hội đồng tư vấn hoặc ban tư vấn).

Đổi mới phương thức phối hợp với cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước, các bộ, ngành, HĐND, UBND). Về giám sát, MTTQ cần tăng cường sự phối hợp với các cơ quan có chức năng giám sát, thanh tra, kiểm tra để thực hiện quyền giám sát của mình, đồng thời cán bộ Mặt trận cần phải đi sâu, đi sát với các tầng lớp nhân dân để lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước.

2.2.9 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng.

Công tác kiểm tra Đảng có mối quan hệ mật thiết với các cơ chế kiểm tra, giám sát khác của các cơ quan nhà nước vì xét cho cùng thì mọi cơ chế kiểm tra, giám sát (của Đảng và Nhà nước) cũng nhằm tới mục tiêu chung là bảo đảm thực hiện đường lối chính sách của Đảng thông qua việc thực hiện những mục tiêu hoạt động cụ thể của các cơ quan nhà nước.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, rất nhiều đảng viên vừa là thành viên tổ chức đảng, vừa là thành viên của bộ máy nhà nước và các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Đảng viên vi phạm nguyên tắc đảng thường gắn với vi phạm về kinh tế và pháp luật. Chính vì vậy công tác kiểm tra đảng cần chú trọng vào việc kiểm tra sự chấp hành pháp luật của đảng viên cũng như các tổ chức đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, bao gồm cả cán bộ các cơ quan đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức kinh tể và đoàn thể nhân dân. Tình hình trên đòi hỏi kiểm tra của đảng và thanh tra của chính phủ cần phối họp chặt chẽ với nhau trong kiểm tra và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, bộ máy của ủy ban kiểm tra và Thanh tra nhà nước có cả ở cấp Trung ương và địa phương. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, ủy ban Kiểm tra và Thanh tra nhà nước các cấp có điều kiện phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy định của Điều lệ Đảng. Nếu việc thực hiện tốt, vừa giúp Thanh tra nhà nước các cấp thực hiện tốt và có hiệu quả nhiệm vụ thanh tra, làm rõ vụ việc và đối tượng vi phạm, vừa tạo điều kiện cho ủy ban kiểm tra các cấp nắm được việc thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng như các vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Tóm lại, về nguyên lý ở đâu có quyền lực nhà nước, thì phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước ta đã tạo thành một cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát… từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực góp phần đảm báo trật tự, kỷ cương mọi mặt của đời sống xã hội và là yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Ở nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều loại hình hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, do nhiều chủ thể tiến hành, với phạm vi, đối tượng, tính chất khác nhau đó là: Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và HĐND các cấp), MTTQ Việt Nam, Tòa án nhân dân các cấp, hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước thẩm quyền chung (thanh tra, kiểm tra của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp). Kiểm tra của Đảng, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, kiểm tra báo cáo quyết toán ngân sách của kiểm toán nhà nước, kiểm tra, kiểm soát của lực lượng công an nhân dân… Hoạt động của mỗi cơ quan đều dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật.

Trên đây là một số nội dụng mẫu báo cáo tốt nghiệp mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Một Số Vấn Đề Về Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay ,các bạn có thể liên hệ Viết thuê báo cáo tốt nghiệp với mình qua sđt/Zalo:  0909232620 nhé!