Lý Luận Chung Về Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại

Rate this post

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Lý luận cơ bản về tín dụng

1.1.1 Khái niệm cơ bản về tín dụng ngân hàng

Tín dụng ra đời từ rất sớm gắn liền với sự ra đời và phát triển hàng hóa. Cơ sở ra đời của tín dụng xuất phát từ:

+ Có sự tồn tại và phát triển của hàng hóa

+ Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh, đảm bảo cuộc sống bình thường.

– Tín dụng xuất phát từ tiếng Latin có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm

– Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng lớn hơn.

– Khái niêm tín dụng được thể hiện ba mặt cơ bản sau:

+ Có sự chuyển giao một lượng giá trị từ người này sang người khác

+ Sự chuyển giao này  mang tính chất tạm thời

+ Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyên giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.

Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ ba mặt trên

* Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả phần vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.

1.1.2 Các hình thức tín dụng

Trong đời sống, tín dụng tín dụng biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

+Tín dụng thương mại là một doanh nghiệp thoả thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng.

+ Tín dụng ngân hàng là việc các ngân hàng thương mại huy động vốn của ngân hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với lãi suất cao hơn nhằm mục đích kiếm lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lã suất đi vay

+ Trong điều kiện kinh tế thị trường, nghiệp vụ cho thuê tài chính do công ty do công ty thuê tài chính thực hiện đối với khách hang là các doanh nghiệp cũng được xem là một hình thức tín dụng đặc thù của nền kinh tế thị trường.

+ Chính phủ hay các doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra ngoài công chúng để vay tiền của các tổ chức, cá nhân cũng được xem là một hình thức tín dụng.

1.1.3 Chức năng và vai trò của tín dụng  cơ bản về tín dụng ngân hàng

1.1.1 Chức năng và vai trò của tín dụng  cơ bản về tín dụng ngân hàng

Là một bộ phận của hệ thống tài chính, quan hệ tín dụng cũng có chức năng phân phối và giám đốc

– Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông qua phân phối lại vốn. Phân phối của tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn trả và có hiệu quả. Nội dung của chức năng này biểu hiện ở cơ chế hút các nguồn tiền tệ nhàn rỗi, phân tán trong xã hội để đẩy nó vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Thu hồi vốn cho vay theo kỳ hạn và tham dự phân phối ở các cơ sở đi vay theo số lượng cho vay với tỷ suất lợi tức đã ghi trong hợp đồng,.

– Chức năng giám đốc kiểm soát các hoạt động kinh tế của tún dụng có liên quan đến đặc điểm quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn, đến mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay.

Người có vốn cho vay luôn quan tâm tới sự an toàn của vốn, không những thế, họ còn mong muốn vốn của họ khi sử dụng có khả năng sinh lời để họ có thêm thu nhập. Muốn vậy người cho vay phải am hiểu và kiểm soát hoạt động của người đi vay, từ khâu xem xét tư cách pháp nhân người vay, tình hình tài chính, khả năng sản xuất kinh doanh, mức độ uy tín ….. sau khi đã xem xét kỹ người cho vay còn phải kiểm soát v iệc sử dụng vốn cho vay có đúng mục đích hay không, có hiệu quả hay không để điều chỉnh lượng vốn và thu hồi vốn đúng hạn và có kèm theo lợi tức.

1.1.3.2 Vai trò của tín dụng

Thực hiện tốt hai chức năng trên tín dụng có vai trò sau đây:

-Với tư cách là công cụ tập trung vốn và tích lũy, tín dụng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn góp phần làm tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và góp phần khắc phục tình trạng lạm phát tăng cao.

– Tín dụng góp phần cung cấp khối lượng vốn cho các doanh nghiệp, từ đó tăng quy mô sản xuất kinh doanh đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tạo khả năng và khuyến khích đầu tư cho các công trình lớn, các ngành,lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, thúc đây lực lượng sản xuất phát triển.

– Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu tiền tệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực.

– Tín dụng góp phần vào việc hình thành, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Tín dụng tạm thời hỗ trợ vốn vay tiêu dùng cho dân cư cải thiện đời sống.

1.2 Những lý luận cơ bản về hạn chế và phòng ngừa rủi ro tín dụng

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là một trong nhưng chức năng cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng tại Viêt nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm ½ đến 2/3 tổng tu nhập của ngân hàng. Tuy vậy, rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng lại tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng, nói một cách khác là người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn.

Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả

Tuy nhiên cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng xảy ra hoặc không xảy ra ổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng mặc dù có tỷ lệ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng cao nếu tập trung đầu tư vào một nhóm khách hàng hay một ngành nghề. Cách hiểu này giúp cho ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm baỏ bù đắp tổn thất khi rủi ro xay ra.

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 thì : “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

* Về mặt định lượng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá hạn, nợ đọng của mỗi ngân hàng.

* Về mặt định tính rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng. Theo đó chât lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại và có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Điều đó giải thích tại sao các cán bộ thanh tra khi xuống làm việc với ngân hàng, luôn kiểm tra toàn bộ danh mục tín dụng và hồ sơ đảm bảo tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn, kiểm tra ngẫu nhiến đối với các khoản tín dụng vừa và nhỏ, trên cơ sở đó đánh giá chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm đảm bảo tính lành mạnh và hiệu quả để bảo vệ những người gủi tiền và cổ đông của ngân hàng.

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng.

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro được chia thành các loại sau:

  • Rủi ro danh mục

Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay củ ngân hàng được chia thành 2 loại là : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính chất riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.

+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

  • Rủi ro giao dịch

Rủi ro dao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro nghiệp vụ, rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo.

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay không an toàn.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình phân tích và đánh giá tín dụng, khi ngân hànlaig quyết định lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

+ Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các loại hình đảm bảo, các điều khoản trong hợp đồng cho vay, chủ thể, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo đem thế chấp

Các nhân tố rủi ro có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là

  • Rủi ro về lãi suất

Rủi ro về lãi suất là một trong những rủi ro cơ bản ảnh hưởng đến thu nhập lãi và giá trị vốn kinh tế của ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất xuất phát từ diễn biến bất lợi của lãi suất thị trường và chênh lệch kỳ hạn định giá lãi suất giữa tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng

  • Rủi ro tín dụng

Bên cạnh rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng cũng là rủi ro lướn đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại.rủi ro xảy ra khi khách hàng vay nợ không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết trong hợp đồng, bao gồm cam kết trả nợ gốc, nợ lãi đúng hạn và các cam kết thanh toán khác làm giảm hay mất giá trị của tài sản Có. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ việc sụt giảm hiệu quả kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng, sự sụt giảm của ngành mà khách hàng hoạt động hoặc của nền kinh tế nói chung. Do đó công tác quản lý rủi ro tín dụng được các ngân hàng đặc biệt coi trọng. Hoạt động quản trị rui ro tín dụng được ngân hàng thực hiện thông qua ban quản lý tín dụng, ban quản lý rủi ro tín dụng, ủy ban quản lý rủi ro và quy trình chặt chẽ từ xếp hạng tín nhiệm, phê duyệt, thẩm định, đến giải ngân và quản lý tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro. Mặc dù vậy không gì có thể đảm bảo mọi rủi ro tín dụng đều được loại bỏ va do đó có thể ảnh hưởng khả năng thu lãi, thu hồi nợ vay của ngân hàng

  • Rủi ro về ngoại hối

Rủi ro ngoại hối phát sinh từ những biến động bất lợi từ tỷ giá hối đoái, gây ra sự sụt giảm giá trị đện nay đối với các tài sản mà ngân hàng nắm giữ. Các hoạt động kinh doanh ngoại hối, góp vốn, liên doanh, đầu tư ra nước ngoài  chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự biến động tỷ giá trên thị trường

Tỷ giá hối đoái tại nước ta hiện nay được Ngân hàng Nhà Nước quản lý và điều tiết, theo đó Ngân hàng Nhà Nước sẽ công bố tỷ giá binh quân liên ngân hàng và các ngân hàng thương mại sẽ giao dịch ngoai tệ với biên độ cho phép. Để quản lý rủi ro tỷ giá, các ngân hàng đã ban hành các quy định về chính sách, hạn mức giao dịch ngoại hối, ngưỡng chấp nhận rủi ro ngoại hối, các công cụ đo lường và kiểm soát rủi ro ngoại hối, đồng thời nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các khoản mục tài sản mà mình nắm giữ

  • Rủi ro về thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa cụ thanh toán đến hạn bao gồm cả nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc đột xuất của khách hàng cũng như các nghĩa vụ chi trả khác. Rủi ro này có thể bắt nguồn từ sự không phù hợp về quy mô và kỳ hạn giữa các tài sản Nợ và tài sản Có của ngân hàng trong các thời điểm, đồng thời ngân hàng chưa thể lường trước và dự phòng đầy đủ cho những giảm sút về nguồn vốn.

Với những diễn biến thanh khoản như thị trường hiện nay rất phức tạp và khó lường trước được, các ngân hàng thương mại cần có chủ trương quản lý tính thanh khoản trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của Ngân Hàng Nhà Nước, đảm bảo an toàn hệ thống, đảm bảo tính lỏng của tài sản và tăng cường chất lượng tài sản

  • Rủi ro từ các hoạt động ngoại bảng

Hoạt động ngoại bảng là các nghiệp vụ kinh doanh được phản ánh trên mục các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán của ngân hàng như bảo lãnh, thư tín dụng, tài trợ thương mại …. rủi ro của hoạt động này phát sinh khi khách hàng mất khả năng thanh toán cho người thụ hưởng, khi đó ngân hàng sẽ phải thay khách hàng thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết và các nghĩa vụ này sẽ được hạch toán như các khoản tín dụng nội bảng

  • Rủi ro luật pháp

Nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển, tuy nhiên khung pháp lý và luật pháp lại chưa được đổi mới tương xứng với sự phát triển kinh tế. Hơn nữa các thay đổi về chính sách và việc diễn giải về pháp luật hiện hành có thể dẫn đến những hậu quả không mong đợi mà có thể ảnh hưởng bất lợi với các ngân hàng thương mại

  • Rủi ro pha loãng
  • Rủi ro chào bán
  • Rủi ro khác

Ngoài các rủi ro trình bày trên các ngân hàng thương mại còn có thể chịu các rủi ro bất khả kháng như động đất, thiên tai, bão lụt hỏa hoạn, chiến tranh dịch bệnh, khủng bố .. những rủi ro này dù ít hay nhiều cũng sẽ có những tac động trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng

-Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.

-Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro. Ngân hàng chấp nhận rủi ro, ngân hàng đã đánh giá cơ hội dựa trên mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đem lại lợi ích với mức rủi ro chấp nhận được. Ngân hàng sẽ ít bị ảnh hưởng nếu mức rủi ro là hợp lý và kiểm soát được.

-Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng phức tạp: thể hiện ở sự đa dạng     phức tạp, nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng.

1.2.4 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

Một khoản vay dù chưa qua hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng mặc dù có tỷ lệ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng cao nếu tập trung đầu tư vào một nhóm khách hàng hay một ngành nghề. Dưới đây là các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

1.2.4.1 Giới hạn cho vay theo quy định chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng giai đoạn.

  • Giới hạn theo khách hàng, nhóm khách hàng vay vốn

Là các chỉ tiêu về tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh đối với khách hàng và một nhóm khách hàng. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dư nợ cho vay tối đa trên vốn tự có của ngân hàng trong quy chế cho vay 1627/NHNN và thông tư 13/NHNN

Bảng giới hạn cho vay và bảo lãnh của ngân hàng

Tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh Giới hạn cho vay trên vốn tự có
Các đối tượng bị cấm cho vay 0% Vốn tự có
Các đối tượng bị hạn chế cho vay ≤ 5% Vốn tự có
Cho vay đối với một khách hàng ≤ 15% Vốn tự có
Cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng ≤ 25% Vốn tự có
Cho vay đối với một nhóm khách hàng ≤50% Vốn tự có
Cho vay và baỏ lãnh với một nhóm khách hàng ≤60%
Cho vay đầu tư và kinh doanh chứng khoán ≤20% Tài sản ngắn hạn

Ở mỗi hệ thống ngân hàng có văn bản phân quyền quyết định tín dụng riêng. Đó là giới hạn phán quyết tín dung tối đa cho khách hàng, và dự án đầu tư của các đối tượng vay vốn tín dụng của ngân hàng. Việc này giúp các ngân hàng có thể kiểm soát được mức dư nợ các chi nhánh của ngân hàng có thể cho vay, việc cho vay quá giới hạn cũng là một trong những nguy cơ gây ra rủi ro cho ngân hàng. Khi khách hàng mất khả năng hoàn trả khoản vay thì nợ quá hạn của ngân hàng gia tăng rất nhanh làm tăng tỷ lệ rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn tự có với mỗi khách hàng trừ trường  hợp khoản vay là từ các nguồn vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân, chính phủ. Trong các trường hợp trên nếu các cá nhân tổ chức đó muốn ay nhiều hơn giới hạn thì ngân hàng phải cho vay dưới hình thức hợp vốn, đồng tài trợ.

  • Giới hạn theo kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng

Hệ thông tính điểm tín dụng khách hàng là công cụ quan trọng để nâng cao chất lượng, tính khách quan, chất lượng tín dụng… bằng cách chấm điểm tín dụng ngân hàng có thể đưa ra quan điểm và quyết định của mình về khoản vay có an toàn và có hiệu quả hay không, mức độ rủi ro của khách hàng có cao hay không, dựa vào các chỉ tiêu đó ngân hàng co thể đưa ra quyết định của mình đối với khoản vay

  • Giới hạn theo lĩnh vực đối tượng đầu tư

Mỗi ngân hàng sẽ có chiến lược đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau là khác nhau. Các lĩnh vực thường được các ngân hàng quan tâm là các lĩnh vực được nhà nước quan tâm, khuyến khích đầu tư và hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực hay biến động, nguy cơ rủi ro cao, mức an toàn thấp hơn

1.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về phân loại nợ

1.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về phân loại nợ

  • Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay

Theo điều 6, 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5. tỷ lệ này đánh giá được chất lượng tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này cành cao thì chứng tỏ chất lượng tín dụng củ ngân hàng càng thấp, và dẫn theo hệ lụy là rủi ro tín dụng cao

  • Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng = doanh số thu nợ/ tổng du nợ bình quân

Vòng quay vốn tín dụng đo lường tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng, no cho biết thời gian thu hồi vốn là bao nhiêu ngày, thời gian đó là nhanh hay là chậm, nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ òng quay vốn tín dụng nhanh, việc quyết định cấp tín dụng của ngân hàng là có hiệu quả

  • Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn= (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) *100%

Nợ quá hạn là các khoản nợ mà đến hạn đáo hạn trả gốc hoặc lãi mà khách hàng chưa thanh toán được thì dư nợ sẽ được chuyển sang là nợ quá hạn

Đối với ngân hàng thì nợ quá hạn không thể tránh khỏi, nó phản ánh mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng,1111

Các ngân hàng luôn cố gắng đảm bảo tỷ lệ này luôn ở mức thấp, theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ này la 3%. Nếu ngân hàng có tỷ lệ này quá cao thì thu nhập ròng của ngân hàng sẽ bị sụt giảm, se hạn chế việc mở rộng tín dụng, khả năng cho vay của ngân hàng sẽ bị giảm sút do đó uy tín của ngân hàng cũng một phần nào đó bị ảnh hưởng, nguy cơ tổn thất cho hoạt động ngân hàng là rất cao.

  • Tỷ lệ mất vốn

Tỷ lệ mất vốn = (dư nợ đã xử lý rủi ro tín dụng trong kỳ /tổng dư nợ)*100%

Theo điều 6, 7 quyết định 493/2005/NĐ-NHNN thì dư nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 gồm các khoản nợ quá hạn trên 1 năm, các khoản nợ chưa được xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn 180 ngày. Tỷ lệ mất vốn ngày càng cao thì thiệt hại cho ngân hàng là rất lớn phải dùng quỹ dự phòng bù đắp

1.2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu cho vay

  • Cơ cấu cho vay theo loại tiền

Ngân hàng cho vay bằng các loại tiền khác nhau. Tuy nhiên việc cho vay phải đảm bảo được sự cân bằng giữa nội tệ và ngoại tệ. Nếu chovay quá nhiều đồng tiền nào sẽ dẫn đếnviệc ảnh hưởng tới ty giá hối đoái. Gây ảnh hưởng tới khách hàng và người chịu ảnh hưởng trực tiếp là ngân hàng.

  • Cơ cấu cho vay theo hình thức đảm bảo tiền vay

Hoàn trả tín dụng là mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng trong nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ. Vì thế khách hàng không đạt các tiêu chuẩn mà ngâ hàng đề ra thì đê hạn chế rủi ro của khoản vay buộc ngân hàng cho vay phải có đảm bảo.

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cần thiết phải thực hiện các biện pháp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng. Tuy nhiên trong trường hợp khách hàng không có đủ tài sản đảm bảo nhưng ngân hàng vẫn quyết  định giải quyết cho vay. Những trường hợp này tiềm ẩn nguy cơ rủi ro là rất cao.

  • Cơ cấu cho vay theo thời hạn

Tùy từng giai đoạn mà ngân hàng cân đối tỷ trọng này là khác nhau. Theo thời gian thì những khoản vay nào có thời hạn càng dài thì tiềm ẩn nguy cơ rủi ro là rất cao cho nên ngân hàng luôn muốn dịch chuyển tỷ trọng cho vay sang nợ ngắn hạn để nhanh chóng thu hồi vốn và nguy cơ rủi ro cũng phần nào hạn chế hơn. Mỗi ngân hàng có định hướng hoạt động tín dụng, dự báo tín dụng rong từng thời kỳ theo diễn biến nền kinh tế, việc cơ cấu không phù hợp tạo ra nhiều nguy cơ rủi ro tin dụng cao.

1.2.4.4 Tính hợp lý của quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là ổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng với các bước được thiết lập theo một trình tự nhất định từ khi nhận hồ sơ tín dụng xin vay vôn đến khi kết thúc hợp đồng. Rủi ro tín dụng cũng phần nào được hạn chế khi quy trình này được tổ chức khoa học, hợp lý, minh bạch và tuân thủ các quy trình của ngân hàng được đề ra

1.2.4.5 Cho vay với các mối quan hệ khác

  • Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sư dụng cho vay trung và dài hạn

Thông tư 15/2009/TT-NHNN quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung và dài hạn của ngân hàng la 30%. Lấy  vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là nguyên nhân gây ra tình trạng mất thanh khoản tại một số ngân hàng. Lãi suất huy động tăng cao la nguyên nhân dẫn đến tăng lãi suất cho vay, những khách hàng có tình hình tài chính mạnh mẽ thường có thể tự lo liệu về vốn của mình không chấp nhận lãi suất cho vay tăng cao còn đối với các doanh nghiệp nhỏ lẻ cần vốn thì lại chấp nhận với mọi điều kiện của ngân hàn. Với các khách hàng không có tình hình tài chính vững chắc là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro của tín dụng.

  • Cơ cấu cho vay theo nguồn vốn

Theo thông tư 13 và 19 thì ngân hàng không được cấp tín dụng quá 80% vốn huy động. Trong đó ngân hàng chỉ được sử dụng vốn lưu động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng quy định tại thông tư này. Như vậy nếu ngân hàng cho vay vượt quá tỷ lệ này thì rủi ro tín dụng cũng tăng cao môt khi khách hàng không thể hoặc không có khả năng hoàn trả khoản tín dụng và hệ lụy là khả năng thanh khoản của ngân hàng giảm sút  có khả năng dẫn đến mất khả năng thanh khoản.

1.2.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp ngân hàng chủ động hơn trong công tác phòng ngừa rủi ro

1.2.5.1 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng

– Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị

+ Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong kinh doanh, khi môi trường kinh doanh ngày càng được quốc tế hóa và cạnh tranh quyết liệt như ở nước ta hiện nay. Nhiều nhà quản trị cha chưa đủ các điều kiện điều hành ngân hàng, chưa được đào tạo một cách cơ bản, không nắm bắt nhanh kịp thời thông tin thay đổi, thiếu bản lĩnh trong điều hành, chưa am hiểu pháp luật….

+ Một số ngân hàng áp dụng việc cho vay theo kiểu trực tuyến cá nhân từ cán bộ tín dụng đến trưởng phòng tín dụng đến giám đốc. Thực tế việc áp dụng tổ chức cho vay này thì quyền lực tập trung vào giám đốc còn trách nhiệm cá nhân bên dưới thì không rõ ràng, dẫn đến tính thiếu tinh thần trách nhiệm dễ xảy ra rủi ro tín dụng.

  • Rủi ro do cán bộ không thực hiện đúng quy trình tín dụng.

+ Quy trình cho vay ở hầu hết ở các ngân hàng thương mại hiện nay là tương đối đầy đủ và phù hợp với cơ chế thị trường và quy định pháp luật nhằm đảm bảo an toàn vốn vay cho tổ chức tín dụng.

Quy trình cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc :

+ Vốn vay phải đảm bảo bằng giá trị vật tư, hàng hóa tương đương. Cho vay phải hoàn trả vốn, trả lãi đúng hạn và sử dụng vốn vay đúng mục đích

+ Phải tuân thủ chặt chẽ các bước kiểm tra kiểm soát ở các công đoạn trước trong và khi cho vay.

+ Cho vay phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, các bước trong quy trình cho vay

Tuy nhiên khi thực hiện vì nhiều lý do mà cán bộ tín dụng đã bỏ qua không thực hiện đúng các trình tự quy định mà ngân hàng đã đưa ra, kiểm soát trong nội bộ không chặt chẽ.

Các ngân hàng thường chỉ tập trung trong việc thẩm định trước khi cho vay mà không quan tâm tới quy trình, mục đích sử dụng vốn sau khi cho vay. Khoản vay cần được quản lý chặt chẽ để hoàn trả vốn đúng thời hạn hợp đồng vay vốn. Nhưng các ngân hàng chưa thực hiện tốt các công tác này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây ảnh hưởng tới khách hàng của cán bộ, một phần là do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin mà ngân hàng yêu cầu.

– Rủi ro do nhân viên ngân hàng tha hóa về đạo đức cán bộ tín dụng, biến chất tư lợi cho cá nhân.

Một số trường hơp cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng cấu kết với khách hàng , xảy ra những tiêu cực trong cho vay thì nguy cơ xảy ra rủi ro là rất cao. Không phải do năng lực yếu kém không đủ sức thẩm định được độ chính xác tin cậy của dự án, phương án vay vốn mà do tư lợi, phẩm chất đạo đức của nhiều cán bộ ngân hàng có chiều hướng tha hóa biến chất, dù pháp luật, quy chế nghiệp vụ và những ràng buộc khác có chặt chẽ tới đâu họ vẫn tìm ra các khe hở để lách luật mà mưu lợi riêng và tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ rủi ro có thể xảy ra.

Một số vụ án lớn có liên quan tới cán bộ ngân hàng tiếp tay cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay vốn, hay gia tăng tài sản thế chấp, lượng vốn vay cao hơn nhiều lấn số lượng tài sản thế chấp. Đạo đức cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng trong vấn đề giải quyết rủi ro tín dụng

1.2.5.2 Nguyên nhân khách quan

– Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng

Trong hoạt động kinh doanh những tai họa và rủi ro thiên tai gây ra mà con người không thể lương trước và phòng tránh được. Nhưng những biến động có tính chất chu kỳ theo mùa đối với người kinh doanh nhiều kinh nghiệm học hỏi thì họ vẫn có thể phòng tránh được.

Quá trình tự do hóa tài chính  và hội nhập kinh tế cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến nhiều khách hàng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong với nguy cơ thua lỗ là rất cao. Bên cạnh đó bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng khiến các ngân hàng trong nước có hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có khả năng tài chính tốt sẽ bị thu hút bởi các ngân hàng nước ngoài.

– Rủi ro chính sách vĩ mô của nhà nước

Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều tới sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, vì vậy hoạt động của ngân hàng cũng chịu  sự điều tiết về pháp lý của nhà nước trong đó hoạt động tín dụng là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp. Khi môi trường kinh doanh kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ gây ra những ách tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động ngân hàng mà cụ thể là hoạt động tín dụng.

Luật và các văn bản luật đã được Quốc Hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, NHNN Đã ban hành song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và gặp nhiều vướng mắc và bất cập.

  • Rủi ro từ phía khách hàng

Nguyên nhân này là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Bao gồm:

+ Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay:

Được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh. Doanh nhiệp gặp rủi ro nếu việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư không khoa học, dự toán chi phí không chính xác ….

+ Rủi ro tài chính:

Khi việc kinh doanh  hiệu quả thì doanh nghiệp không thể hoàn thành các nghĩa vụ với ngân hàng. Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, gắn liền với cơ cấu tài chính doanh nghiệp. Rủi ro này thể hiện ở việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay không hợp lý, dẫn đến mất khả năng chi trả. Đây là một loại rủi ro thường gặp đối với các doanh nghiệp

+ Rủi ro do thông tin bất đối xứng

Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫ đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt ngân hàng vào các nguy ơ rủi ro cao. Môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và gây thiệt hại hoặc mang tới thành công cho người đi vay.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác thuộc về khách hàng: sử dụng vốn sai mục đích, khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng … nội bộ không đoàn kết nhất trí, tồn tại nhiều mâu thuẫn trong quản lý khiến hoạt động sản xuất bị ngừng trệ, không có tiền hoàn trả nợ khoản vay cho ngân hàng.

1.2.5.3 Nguyên nhân từ bên ngoài

Do tính dễ thay đổi của các nhân tố rủi ro, do tính không ổn định của thị trường tài chính ngày càng tăng, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp các ngân hàng ngày càng tăng, sự thay đổi chính sách của ngân hàng cũng như địa phương….

1.2.6 Thiệt hại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã và đang gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới nhiều mặt của dời sống kinh tế xã hội của một đất nước, thậm chí có thể lan rộng ra toàn cầu. thiệt hại rủi ro gây ra có thể ảnh hưởng tới nhiều đối tượng

  • Đối với ngân hàng:

Khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng không thể thu hồi được nợ điều này làm cho nguồn vốn của ngân hàng bị thất thoát. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi và gốc cho nguồn vốn huy động đầu vào dùng để đầu tư cho khoản vay đó. Và bù đắp thiếu hụt khoản vay khi khách hàng vay nợ không có khả năng hoàn trả nợ đúng hạn. Nếu nhiều khách hàng đều chung tình trạng như vậy thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn lớn. Do vậy lợi nhuận của ngân hàng có thể bị giảm sút, nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản.

  • Đối với hệ thống ngân hàng

Mỗi một ngân hàng trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với hệ thống ngân hàng và các tôt chức tài chính kinh tế. Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động kinh doanh xấu hay nghiêm trọng hơn là mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ gây ra hiệu ứng domino ảnh hưởng không tốt tới toàn bộ hệ thống ngân hàng

  • Đối với nền kinh tế

Ngân hàng là kênh bơm và hút tiền cho nền kinh tế vì vậy rủi ro tín dụng gây ra sự phá sản của một ngân hàng sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế của quốc gia từ đó sẽ làm cho nền kinh tế đi xuống theo chiều hướng suy thoái, hoạt động kinh tế kém hiệu quả

  • Trong quan hệ kinh tế đối ngoại

Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống tài chính ngân hàng quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó.

1.2.7 Giải pháp cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

1.2.7.1 Dấu hiệu của rủi ro tín dụng

Thực tế hoạt động của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua cho thấy rủi ro tiềm ẩn lớn nhất là rủi ro tín dụng. Nên quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ và là yêu cầu bắt buộc đối với các ngân hàng. Để hạn chế rủi ro tín dụng vấn đề đặt ra đối với ngân hàng thương mại là phải phân tích đánh giá được những nguyên nhân chính gây nên rủi ro tín dụng để có những biện pháp thích hợp. Qua đó hạn chế thấp nhất những rủi ro, cán bộ tín dụng phải nhận biết chúng một cách có hệ thống. Do vậy ta có thể xếp các dấu hiệu của rủi ro tín dụng thành các nhóm sau:

  • Nhóm 1: các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng của khách hàng.

Trong quá trình hạch toán của khách hàng xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng

  • Phát hành Sec quá bảo chứng hoặc bị từ chối
  • Khó khăn trong thanh toán lương

Sự giao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi

Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản

Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau

Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí

Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn

  • Các hoạt động cho vay

+Mức độ vay thường xuyên gia tăng

+Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi

+Thường xuyên yêu cầu ngân hàng gia hạn đáo hạn

+Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến

– Phương thức tài chính

+Sử dụng nhiều các khoản tài trợ nợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển nợ dài hạn

+Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ cao nhất như thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả.

+Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu.

+Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu

Có biểu hiện giảm vốn điều lệ

  • Nhóm 2: Các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng

+Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành

+Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích quản trị , điều hành độc đoán, hoặc lại quá phân tán.

+Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện

+Được hoạch định bởi hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành ít hay là không có kinh nghiệm

+Hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật

+Thiếu quan tâm đến vấn đề lợi ích của cổ đông, của chủ nợ

+Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên

+Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.

+Quản lý có tính gia đình có tính biểu hiện thiếu tin tưởng vào người quản lý không thuộc gia đình,

+Có tranh chấp trong quá trình quản lý

+Có các chi phí bất hợp lý

+Có các chi phí quản lý bất hợp lý: tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như  thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện đi lại đắt tiền, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân

  • Nhóm 3: các dấu hiệu liên quan tới ưu tiên trong kinh doanh

+Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn ngân hàng bị ấn tượng bởi khách hàng có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc ban giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm đạt được hợp đồng lớn

+Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý tới các yếu tố khác

Sự cấp bách không thích hợp như: do áp lực nội bộ dẫn đến việc tung sản phẩm ra thị trường quá sớm, các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế, tọa mong đợi thị trường không đúng lúc

  • Nhóm 4: nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại biểu hiện

+Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm của doanh nghiệp vay vốn

+Tỷ giá, lãi suất, thị hiếu thay đổi. thêm đối thủ cạnh tranh

+Những thay đổi từ chính sách nhà nước:đặc biệt chú ý tới sự tác động của chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động môi trường

+Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao

+Có biểu hiện cắt giảm chi phí sửa chữa thay thế

  • Nhóm 5: nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính kế toán

+Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc không chậm trễ trì hoãn nộp các báo cáo tài chính

+Những kết luận về phân tích tài chính ta có thể thấy

+Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên

+Khả năng tiền mặt giảm

+Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có lãi

+Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp

+Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán

1.2.7.2 Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

* Thực hiện đầy đủ và đúng quy trình tín dụng

+Đánh giá khách hàng

+Ngân hàng thường xuyên tổ chức thực hiện tốt việ kiểm tra, thẩm định để để đánh giá chính xác về khách hàng từ đó có quyết định cho vay đúng đắn và phát hiện được rủi ro tiềm ẩn kịp thời.

+Đánh giá uy tín khách hàng: xem xét sự sẵn sàng trả nợ ngân hàng của khách hàng, tư cách đạo đức của người chủ, người điều hành, thông qua mối quan hệ của người chủ và nguời xung quanh xem xét đánh gía ngành nghề mà khách hàng kinh doanh

+Đánh giá năng lực pháp lý của doanh nghiệp: quyết định thành lập, giấy phép đăng ký kinh doanh, điều lệ hoạt động năng lực pháp lý của người đại diện

+Đánh giá phân tích tình hình tài chính của khách hàng, đánh giá ảnh hưởng của nó tới mức độ của rủi ro khoản vay sau này

+Phân tích khả năng tạo ra thuận lợi hay năng lực kinh doanh, đánh giá về thị trường và sản phẩm, xem xét vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sự ưa thích của người tiêu dùng đối với sản phẩm hiện tại và trong tương lai, các nguồn lực cho sản xuất và chất lượng quản lý

+Sự thiếu trung thực của khách hàng thể hiện trong báo cáo tài chính, bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các tài liệu chứng từ liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay. Đây là vấn đề phức tạp đòi hỏi các ngân hàng phải thu thập các thông tin, nắm vững khả năng tài chính và đánh giá chăc chắn hiệu quả dự án của khách hàng vay vốn, tránh tình trạng thẩm định chỉ dựa trên số liệu trong báo cáo tài chính hoặc hợp đồng kinh tế bằng bản copy không đáng tin cậy.

+Phân tích điều kiện kinh doanh: ngân hàng đánh giá biến động của nền kinh tế, khi nền kinh tế tăng trưởng se mở rộng cho vay, thắt chặt khi suy thoái

  • Tăng cường công tác kiểm tra của ngân hàng

Kiểm tra khách hàng cả trước và sau khi cho vay, cần kiểm tra khách hàng khi khách hàng bắt đầu đặt quan hệ tín dụng với ngân hàng đến khi ngân hàng duyệt xong kế hoạch vay vốn và cuối cùng là thu hồi hết vốn. Sau khi đã cho vay ngân hàng cần kiểm tra việc sử dụng tiền vay có hiệu quả có đúng mục đích hay không, tiến độ thực hiện sản xuất kinh doanh, khả năng tiêu thụ sản phẩm và việc thực hiện trả nợ gốc và lãi ngân hàng đúng hạn

  • Sử dụng có hiệu quả công cụ đảm bảo

Đảm bảo an toàn vốn vay nhất là các khách hàng mới quan hệ tín dụng với ngân hàng lần đầu hoặc có độ tín nhiệm chưa cao với ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng đảm bảo tín dụng để giảm bớt rủi ro trong tín dụng tạo điều kiện thu hồi nợ chắc chắn

  • Đa dạng hóa tín dụng

Đa dạng hóa đối tượng đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau nhằm phân tán rủi ro trong tín dụng ngân hàng, không nên cho vay tập trung ở một khu vực hay một lĩnh vực kinh tế nào đó. Không nên tập trung vốn vay cho một hoặc một đối tượng khách hàng vì nó sẽ làm ảnh hưởng xấu đến mức độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Thực hiện phương châm trong kinh doanh “ không nên để trứng cùng một giỏ” . đối với các dự án lớn và có triển vọng ngân hàng có thể thực hiện liên doanh liên kết với ngân hàng khác dưới hình thức đồng tài trợ

  • thực hiện bảo hiểm tín dụng

Đây là hình thức phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng hết sức mới mẻ. Ngân hàng yêu cầu khách hàng tham gia bảo hiểm đối với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của họ

+Ngân hàng trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng

+Ngân hàng mua bảo hiểm tín dụng từ các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp

+Xây dựng bộ máy quản lý tín dụng và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả với chất lượng cao

+Nhân tố con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại trong quản trị tín dụng. Người làm công tác quản lý tín dụng phải biết vận dụng kiến thức tổng hợp để có thể xem xét chính xác các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, phương thức tổ chức kinh doanh, quan hệ với xã hội và các vấn đề liên quan tới pháp luật .. nhân tố con người đóng vai trò quan trọng. Ngân hàng phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng với chuyên môn của từng người…

Ngân hàng phải vận dụng các công cụ tài chính của mình để hạn chế và phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng các hợp đồng như: hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn…

Cách Làm Đề Tài Báo Cáo Tốt Nghiệp: Lý Luận Chung Về Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại

 Trên đây là một số nội dụng mẫu báo cáo tốt nghiệp mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Lý Luận Chung Về Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại , các bạn có thể liên hệ Thuê viết báo cáo tốt nghiệp với mình qua sđt/Zalo:  0909232620 nhé!