Tư Tưởng Về Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Trong Lịch Sử Tư Tưởng Chính Trị

Rate this post

Tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử tư tưởng chính trị

Việc kiểm soát quyền lực có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có ít nhất là hai xuất phát điểm cơ bản: Từ lợi ích của những người nắm giữ quyền lực và từ lợi ích của những người chịu tác động quyền lực.

Các nhà tư tưởng cổ đại Phương Đông bàn về quyền lực chính trị và kiểm soát quyền lực cai trị đáng chú ý nhất trong trường phái pháp trị Trung Hoa cổ đại, được biểu hiện trong tác phẩm của Hàn Phi Tử, một “Tập đại thành” gói trọn kinh điển pháp gia. Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là một hệ thống quan điểm về pháp – thế – thuật, lấy pháp làm nội dung cai trị. Pháp luật được Hàn Phi xem là tiêu chuẩn để phân biệt đúng – sai, chính tà, là phương tiện của người cầm quyền dùng để điều khiển đất nước. Theo Hàn Phi chỉ có pháp luật mới làm cho nước trị: “Cái làm cho trị an là pháp luật, cái gây ra loạn là sự riêng tư. Pháp luật đã thiết lập rồi thì không ai có thể làm điều riêng tư được nữa”[1]

Các nhà tư tưởng cổ đại phương Tây nêu ra tư tưởng phân quyền, ở những mức độ khác nhau. Đại biểu của những tư tưởng ấy là Platôn và Arixtôt. Aristôt quan niệm hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức quyền lực chính trị. Nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phận độc lập. Cơ quan nghị luận (làm luật), cơ quan chấp hành (hành chính), cơ quan xét xử. Tư tưởng phân quyền thời cổ đại chỉ là phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước. Việc thực hiện nhiệm vụ nhà nước theo chức năng, tự nó đã có sự giám sát quyền lực. Platôn cho rằng, nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là chính trị phân giải thành pháp lý, hành chính, tư pháp và ngoại giao. Song tất cả các yếu tố đỏ phải được thống nhất bởi chính trị. Tức là phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết, hoạt động của nhà nước như lập pháp, hành pháp, tư pháp cùng nhằm vào một đối tượng, nhưng đồng thời chúng có khác nhau.

Các nhà tư tưởng thời cận đại đã kế thừa tư tưởng phân quyền về kiểm soát quyền lực thời cổ đại, phát triển thành học thuyết “phân chia quyền lực” vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI – XVIII đại diện là Jon Lock và đỉnh cao là Mongtecxkiơ.

Mongtexkiơ (1689 – 1775): Là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc của Pháp, người đề xướng học thuyết phân quyền; tư tưởng của ông được phản ánh trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” và “Những bức thư thành Ba Tư”.

Nghiên cứu lịch sử của chế độ chuyên chế, quyền lực nằm trong tay một người, hay một tổ chức tất yếu dần đến lạm quyền và sử dụng quyền lực để mưu lợi ích riêng. Mongtexkiơ cho rằng, để loại trừ khả năng lạm quyền thì cần phải thiết lập một trật tự trong đó quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập, trở thành lực lượng kiềm chế nhau. Quyền lập pháp được chia giữa tư sản và phong kiến. Nghị viện có hai viện, Thượng viện đại diện cho quý tộc; Hạ viện đại diện cho dân. Mongtecxkiơ giải thích: “Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài”[2]. Cũng tương tự như vậy, “nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân”  và “nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thi ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp” và ông còn cho rằng, quyền tư pháp phải độc lập, không trao cho cơ quan thường trực nào, mà trao cho nhân dân bầu theo định kỳ.

Thuyết phân chia quyền lực ra đời trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản tập hợp quần chúng chống chế độ phong kiến. Khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, học thuyết này đã trở thành nguyên tắc căn bản về tổ chức và hoạt động của nhà nước tư sản. Ý nghĩa lịch sử của học thuyết phân quyền là ở chỗ thấy được sức mạnh của quyền lực nhà nước (với tư cách là quyền lực của nhân dân ủy quyền). Vì thế nó không được trao cho một ai hoàn toàn, mặt khác nó cho thấy sự nguy hiểm nếu quyền lực nhà nước không được kiểm soát để rơi vào tay quý tộc hay tư sản. Cũng cần thấy rằng, nguồn gốc sâu xa của lý thuyết phân quyền là ở chỗ nó đã thích ứng với tính không thuần nhất về lợi ích giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ giai cấp tư sản, thích ứng với tình trạng tranh giành quyền lực diễn ra liên tục giữa các bộ phận đó.

Quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít về kiểm tra – kiểm soát quyền lực nhà nước

Qua di sản lý luận mà Mác – Ăngghen để lại, hầu như hai ông không đi sâu bàn tới việc kiểm soát quyền lực một cách trực tiếp, mà bàn tới công tác kiểm tra, kiểm soát của Đảng và Nhà nước. Trong bộ Tư bản, Mác đã đề cập đến công tác kiểm tra nói chung – kiểm tra là một phương thức hành động để thực hiện mục đích. Nó như là quy luật. Như vậy theo quan điểm của Mác – Ăngghen thì kiểm tra là một tất yếu khách quan đối với hoạt động của con người và tổ chức. Có hoạt động thì phải có kiểm tra. Các Mác khẳng định rằng: Vào một thời kỳ ở một nước mà thế lực vua chúa, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản tranh giành quyền thống trị, mà do đó quyền thống trị bị phân chia thì học thuyết phân quyền tỏ ra là tư tưởng thống trị, nó được người ta coi là quy luật vĩnh viễn… mỗi điều khoản của hiến pháp đều chứa sẵn trong bản thân nó cái phản đề của bản thân nó, cái thượng viện và hạ viện của nó tự do trong câu nói chung chung, và xóa bỏ cái tự do trong điều khoản kèm theo… Hiến pháp đã được thảo ra sao cho nghị viện có thể gạt bỏ được tổng thống bằng con đường lập hiến, nhưng Tổng thống lại có thể gạt bở nghị viện bằng con đường không hợp hiến, bằng cách thủ tiêu luôn cả hiến pháp. Như thế là ở đây, bản thân hiển pháp lại đi thách thức thủ tiêu mình bằng bạo lực. Chẳng những nó thần thánh hóa chế độ phân quyền giống như Hiến chương 1830, mà nó còn mở rộng chế độ phân quyền đến chỗ mâu thuẫn không sao chịu nổi… Nếu hiến pháp giao cho tổng thống quyền thực tế thì nó lại cố gắng bảo đảm cho nghị viện quyền tinh thần…[3]

Khi xem xét mối liên hệ giữa thuyết phân quyền với sự phân công lao động trong bộ máy nhà nước Ph. Ăngghen đã viết “Phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm được trên thực tế, về thực chất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hóa và để kiểm tra.”[4] Các ông cho rằng, Thuyết phân quyền ở đó Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, tòa án chỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trung vào cơ quan hành pháp. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học thuyết chính trị pháp lý, kể cả thuyết phân chia quyền lực. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, Mác và Ăngghen đã cho ta thấy, trong xã hội có giai cấp đổi kháng, quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp thống trị; nếu chế độ nhà nước đó bị đập tan thì quyền lực nhà nước trở về tay nhân dân, như chính cội nguồn ban đầu của nó, nhân dân là gốc của quyền lực là chủ thể của quyền lực. Sự thay đổi về bản chất này cần có quan điểm mới về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước khi nhà nước của nhân dân lao động được thành lập dưới CNXH.

Quan điểm của V.I. Lênin về công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm kê kiểm soát, V.I. Lênin bàn đến rất nhiều, rất sâu. Nội dung quan điểm của V.I. Lênin được thể hiện rõ ở 4 vấn đề chủ yếu đó là: Tính tất yếu phải kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát; Những nội dung cơ bản của kiểm tra, kiểm soát; Chủ thể kiểm tra, kiểm soát và đối tượng của nó; tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát. Theo Lênin, những nội dung chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát bao gồm: Kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và phân phối những sản phẩm chủ yếu nhất; kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và tiền tệ, nhất là hoạt động của ngân hàng, lưu thông tiền tệ, thu nhập, chi tiêu và nộp thuế của các nhà giàu; kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc thi hành các chức trách và chấp hành kỷ luật lao động; kiểm tra, kiểm soát để phát hiện kịp thời và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực.

Đây chính là những vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, tuy nhiên ở các quy mô rất khác nhau. Nói một cách khái quát, theo V.LLênin, nội dung công tác kiểm tra bao gồm: kiểm tra việc và kiểm tra người. Nó bao trùm toàn bộ việc kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, chứ không chỉ là một quá trình của công tác lãnh đạo.

Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điếm Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ở Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kiềm soát gắn liền với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người về Đảng nói chung, xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, nhà nước của dân do dân, vì dân nói riêng. Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề “đặt ra đặc biệt ủy viên Hội để điều tra và xử đoán”[5] những sự kiện cáo nhau. Tiếp đó trong các văn kiện, bài nói, bài viết từ năm 1930 đến năm 1969 tư tưởng về công tác kiểm tra, kiểm soát và thi hành kỷ luật đã không ngừng được người bổ sung, hoàn thiện. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kiểm soát và thực hành kỷ luật được biểu hiện rõ nét ở những vấn đề chủ yếu đó là: “Vì sao phải tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý kỷ luật?; Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…; phải tổ chức sự kiểm soát…”[6] .

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi trọng công tác kiểm tra và giữ gìn kỷ luật. Điều lệ Đảng 1930 ghi rõ: Cái trách nhiệm của đảng viên và các cán bộ là giữ theo kỷ luật Đảng một cách nghiêm khắc. Tất cả đảng viên đều phải chấp hành các nghị quyết của Quốc tế, của Đảng đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan… Đối với vấn đề phạm kỷ luật thì do toàn chi bộ hoặc các cấp Đảng bộ tra xét.

Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp lại được sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới: Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng; xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật; giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng; kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

Thực chất của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta là tổng hợp các công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, của các cơ quan trong hệ thống chỉnh trị và của nhân dân. Bảo cáo chính trị Đại hội IX chỉ rõ: “Lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra của Chính phủ và các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, theo đúng chức năng và thẩm quyền của các cơ quan đó. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy, của ủy ban kiểm tra các cấp tập trung vào các nội dung chủ yếu: Thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và qui chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên”[7].

Có thể nói, sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển của Đảng ta về công tác kiểm tra, kiểm soát thể hiện ở mấy điểm chủ yếu sau:

Một là, Đảng ta đã cụ thể hóa rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra – đã xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Có lãnh đạo thì phải có kiểm tra. Lãnh đạo cũng có nghĩa là kiểm tra. Công tác kiểm tra là của toàn Đảng, các cấp ủy Đảng và người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.

Hai là, xác định rõ ràng và cụ thể hóa nội dung, nhiệm vụ kiểm tra của cấp ủy và của ủy ban kiểm tra. Trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng, Đảng ta đều có sự sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới, phù họp với hoàn cảnh thực tiễn. Việc xác định chủ thể, khách thể kiểm tra trong tùng nhiệm vụ cũng rõ ràng hơn. Điều này có ý nghĩa thiết thực – khắc phục được tình trạng buông lỏng, khoán trắng, thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra của một số cấp ủy.

Vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà công tác kiểm tra của Đảng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, công tác kiểm tra của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện, bảo vệ đường lối, chính sách, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, công tác kiểm tra của các tổ chức đảng và cấp ủy các cấp còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm. Không ít cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ về công tác kiểm tra của Đảng, coi đây chỉ là công việc của ủy ban Kiểm tra các cấp. Khi xem xét kỷ luật hoặc khi đơn vị có vụ việc, còn lúng túng, thiếu chủ động cả về nội dung và phương pháp kiểm tra. Nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng không được chấp hành nghiêm túc, thậm chí sai lệch nhưng không được kiểm ừa, uốn nắn. Nhiều tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính, tiền tệ gây hậu quả nghiêm trọng, tệ quan liêu, tham nhũng đang làm tha hóa một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhưng chậm được kiểm tra, phát hiện, xử lý công minh, kịp thời. Công tác cán bộ còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm, chưa đáp ứng yêu cầu. Điều đó lại càng đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền.

Tóm lại, trong xã hội có giai cấp kiểm soát quyền lực nhà nước là một tất yếu khách quan, và cũng tất yếu khách quan như quyền lực nhà nước. Sự thực thi quyền lực nhà nước bao giờ cũng đi kèm với vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, nhằm đảm bảo sự cân bằng, nhà nước hoạt động đúng mục đích.

Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan, quyền lực nhà nước thường được lượng hóa bằng các quy định của Hiến pháp để phân định nhiệm vụ quyền hạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự lượng hóa này là để giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt nhân dân thực hiện. Sự phân định các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để nhân dân giao quyền mà quyền đó không bị lạm quyền hoặc lạm dụng, nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quả thực hiện các quyền mà mình đã giao. Đồng thời cũng là để cho các cơ quan tương ứng được giao quyền cần đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tự kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao. Mặc dù không phải lúc nào việc kiểm soát quyền lực nhà nước cũng được thực hiện tốt. Lịch sử đã chứng minh rằng quyền lực nhà nước nếu không được kiểm soát sẽ gây nhiều tai họa cho xã hội và cho nhân loại. Đó là lúc con người mất quyền tự do, dân chủ, xã hội bị bóp nghẹt bởi các thế lực chuyên chế, các cơ quan và công chức nhà nước trở nên chuyên chế, lộng quyền… kết quả là xã hội bị trì trệ, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân cực khổ tối tăm (đêm trường trung cổ là một ví dụ). Vì vậy, các nhà tư tưởng từ trước đến nay đều cố gắng luận giải cho sự cần thiết phải có kiểm soát quyền lực nhà nước.

Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các hình thức, phương thức, nguyên tắc, cơ chế khác nhau, như phân quyền, tập trung dân chủ, giám sát, kiểm tra, kiểm sát, kiểm toán… kiểm soát từ bên trong cơ cấu nhà nước và từ bên ngoài; từ trên xuống, từ dưới lên… tùy theo điều kiện mỗi thời đại, mồi nước khác nhau sẽ có các hình thức lịch sừ và phương thức khác nhau.

Ở nước ta hiện nay vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước được đặt ra trong điều kiện trong điều kiện xây dựng CNXH. Mặc dù mang rõ nét tính đặc thù, nhưng quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta cũng phải tuân thủ những nguyên tắc phổ biến, vấn đề đặt ra là tính hiệu quả của hệ thống đó. Có thể nói, quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay chưa được kiểm soát tốt, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chưa thực thi tốt quyền lực nhà nước. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã tiến một bước mới trong việc phân công quyền lực nhà nước. Lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn là duy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp năm 1992), quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Việc xác nhận các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một sự đổi mới quan trọng, tạo điều kiện để làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi quyền.

[1] Phan Ngọc (1992), Hàn Phi Tử, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.

[2] Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 100

[3] C.Mác – Ph.Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị pháp lý Beclin, tr 236

[4] C.Mác – Ph.Ăngghen (1981), Tuyển tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 405

[5] Văn kiện Đảng toàn tập (1998), Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[6] Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr146

Trên đây là một số nội dụng mẫu báo cáo tốt nghiệp mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Tư Tưởng Về Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Trong Lịch Sử Tư Tưởng Chính Trị,các bạn có thể liên hệ Viết thuê báo cáo tốt nghiệp với mình qua sđt/Zalo:  0909232620 nhé!