Vi Phạm Hợp Đồng Là Gì? – Tài liệu tham khảo

Rate this post

Chia sẻ lời giải cho câu hỏi “Vi Phạm Hợp Đồng Là Gì?“, bên mình có Dịch vụ hỗ trợ viết báo cáo thực tập, báo cáo tốt nghiệp dành cho các bạn sinh viên có nhu cầu hoặc gặp khó khăn trong quá trình hoàn thiện bài viết. Các bạn liên hệ đến SĐT ZALO: 0909 232 620 để được tư vấn nhiều hơn nhé!

Khái niệm vi phạm hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng nói chung thì hành vi vi phạm hợp đồng không còn xa lạ. Vi phạm hợp đồng hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý ghi nhận bởi lẽ hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ nội hàm của khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng nói trên. Nhiều câu hỏi xoay quanh khái niệm này vẫn chưa có lời giải đáp: thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng? Có thể nói rằng, “vi phạm cơ bản hợp đồng” là khái niệm phức tạp và đến nay có tác giả nước ngoài cho rằng vi phạm cơ bản hợp đồng là khái niệm “vô nghĩa, trừu tượng và mơ hồ”

Hiện nay, theo quy định của công ước Viên 1980 quy định tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó “một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”. Về lý thuyết có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng thể hiện thông qua yếu tố

– Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng;

– Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng;

– Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó.

Ở nước ta hiện nay theo quy định tại khoản 13 điều 3 Luật Thương mại năm 2005, là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”. Đây cũng là cơ sở để áp dụng chế tài trong quá trình thực hiện hợp đồng của các bên nói chung.  Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Biểu hiện cụ thể của hành vi vi phạm hợp đồng là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng. Cần lưu ý, các bên không chỉ thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà còn phải thực hiện cả những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (nội dung thường lệ của hợp đồng). Vậy nên, khi xem xét một hành vi có là hành vi vi phạm hợp đồng hay không phải căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng và cả quy định pháp luật có liên quan.

Trong thực tiễn để xác định việc có hay không một hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải chứng minh được hai vấn đề. Cụ thể:

Thứ nhất, quan hệ hợp đồng hợp pháp giữa các bên và có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng. Việc thực hiện các quan hệ hợp đồng thể hiện sự trên cơ sở hành động hoặc không hành động của hợp đồng hợp pháp (đáp ứng yêu cầu của pháp luật về hợp đồng). Hợp đồng hợp pháp là cơ sở phát sinh nghĩa vụ giữa các bên và là căn cứ quan trọng để xác định hành vi vi phạm. Cần đối chiếu giữa thực tế thực hiện hợp đồng với các cam kết trong hợp đồng hoặc các quy định pháp luật có liên quan để xác định chính xác hành vi vi phạm hợp đồng.

Hai là, hành vi vi phạm hợp đồng thương mại với tư cách là căn cứ để áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại cần phải có sự đánh giá về vi phạm cơ bản và không cơ bản. Vấn đề này mới được đưa vào Luật thương mại năm 2005 “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản” (Điều 293 – Luật thương mại 2005).

Xem thêm: