Đề tài khóa luận Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
5/5 - (5 bình chọn)

Tải miễn phí Đề tài khóa luận “Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn” là một đề tài viết bài khóa luận Quản Trị Khách Sạn phù hợp với các bạn sinh viên đang thực tập ở Khách Sạn. Bởi vì, các bạn khi công tác ở Khách Sạn có thể nắm rõ tình hình kinh doanh khách sạn, nguồn tài chính khách sạn, hoạt động quảng cáo của khách sạn, chất lượng dịch vụ khách sạn,… Với những thông tin, số liệu này có thể hỗ trợ các bạn viết bài khóa luận đề tài: “Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn”

Bài khóa luận dưới đây là bài mẫu được tác giả hoàn thành chỉnh chu và đàu tư tâm huyết, thời gian và công sức để hoàn thành bài khóa luận này. Bài khóa luận được giáo viên hướng dẫn đánh giá cao và chấm điểm cao, hy vọng bài khóa luận này phù hợp với các bạn sinh viên đang tìm kiếm đề tài cho bài khóa luận của mình


ĐỀ CƯƠNG BÀI KHÓA LUẬN HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH ĐẾN KHÁCH SẠN

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
3. Mục tiêu nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về khách sạn, khách du lịch và chiến lược marketing
1.1. Cơ sở lý luận về khách sạn
1.1.1. Khái niệm khách sạn
1.1.2. Các loại hình khách sạn
1.2. Cơ sở lý luận về khách du lịch
1.2.1. Khái niệm khách du lịch
1.2.2. Phân loại khách du lịch
1.3. Cơ sở lý luận về chiến lược marketing
1.3.1. Định nghĩa về marketing
1.3.2. Vai trò của marketing
1.3.3. Định nghĩa về marketing mix
Chương 2: Thực trạng về hoạt động thu hút khách của khách sạn Citadines Blue Cove Danang:
2.1. Giới thiệu về khách sạn Citadines Blue Cove Danang
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
2.1.3. Vị trí chức năng
2.2. Tình hình kinh doanh của khách sạn và tình hình thu hút khách
2.2.1. Tình hình kinh doanh 4 quý năm 2019
2.2.2. Tình hình thu hút khách
2.3. Chính sách marketing cho việc thu hút khách
2.3.1. Chính sách sản phẩm (Product)
2.3.2. Chính sách giá (Price)
2.3.3. Chính sách phân phối (Place)
2.3.4. Chính sách xúc tiến và truyền thông (Promotion)
2.3.5. Chính sách con người (People)
2.3.6. Chính sách quy trình (Process)
2.3.7. Chính sách bằng chứng về vật chất (Physical evidence)

Xem Thêm ==> Tổng hợp 5 Lời Mở Đầu ngành nhà hàng khách sạn HAY – ĐIỂM CAO
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động thu hút khách của khách sạn Citadines Blue Cove Danang
3.1. Định hướng phát triển trong tương lai
3.2. Đề xuất giải pháp marketing nhằm tăng cường hoạt động thu hút khách
3.3.1. Chính sách sản phẩm (Product)
3.3.2. Chính sách giá (Price)
3.3.3. Chính sách phân phối (Place)
3.3.4. Chính sách xúc tiến và truyền thông (Promotion)
3.3.5. Chính sách con người (People)
3.3.6. Chính sách quy trình (Process)
3.3.7. Chính sách bằng chứng về vật chất (Physical evidence)

KẾT LUẬN


LỜI MỞ ĐẦU BÀI KHÓA LUẬN HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH ĐẾN KHÁCH SẠN

1. Lý do chọn đề tài:

Nền kinh tế của nước ta những năm gần đây có một sự bước phát triển đáng kể . Sự phát triển của nền kinh tế đã khiến cuộc sống con người được cải thiện về mọi mặt. Nhu cầu ăn ở, du
lịch, mua sắm cũng theo đó mà trở thành điều tất yếu của mỗi người dân, đặc
biệt là nhu cầu đi du lịch. Từ thực tế đó, ngành du lịch ở nước ta đã hình thành
và phát triển với một tốc độ nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Đi đôi với sự phát triển của ngành du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí, khách
sạn, nhà hàng cũng phát triển một cách đáng kể. Trong đó khách sạn đóng một
vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch.
Thực tế cho thấy rằng, lợi nhuận trong kinh doanh nói chung và trong
ngành du lịch nói riêng là rất cao, nó luôn có sức hấp dẫn và thu hút lớn đối với
các nhà đầu tư. Họ đã không ngần ngại bỏ ra rất nhiều vốn để thu hút khách
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính vì vậy, ở bất cứ lĩnh vực
nào, vấn đề thu hút khách luôn là vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Trong kinh doanh khách sạn, vấn đề thu hút khách luôn luôn được đặt lên
hàng đầu, các nhà kinh doanh, lãnh đạo đã và đang tạo ra những sản phẩm du
lịch, dịch vụ, các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm thu hút đông đảo khách
hàng. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển sản phẩm, để đáp ứng
nhu cầu cũng như tăng cường khả năng hấp dẫn, thu hút với từng loại khách cụ
thể nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thì vẫn còn có nhiều mặt hạn chế. Cùng
xuất phát từ mục đích muốn thu hút được nhiều khách hàng về với mình hơn,
nhiều khách sạn đã phải cạnh tranh gay gắt với nhau bằng nhiều thủ đoạn, chính
sách và biện pháp.
Từ thực tế đó, cùng với thời gian thực tập tại khách sạn Citadines Blue Cove Danang em xin phép thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng hoạt động thu hút khách đến khách sạn Citadines Blue Cove Danang”.

Xem Thêm ==> 31  Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Nhà Hàng Khách Sạn
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng : Hoạt động thu hút khách đến khách sạn Citadines Blue Cove Danang
– Thời gian: 03/02/2020 – 02/04/2020
– Không gian nghiên cứu: Khách sạn Citadines Blue Cove Danang.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:

Thu hút thêm khách đến với khách sạn trong tương lai.
4. Phương pháp nghiên cứu:

Điều tra tìm kiếm thông tin qua sách báo, các giáo trình chuẩn được công nhận. Sau đó tập hợp lại các nguồn thông tin để phân loại, chọn lọc và xử lý thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu và viết khóa luận. Bên cạnh đó đưa ra một số đánh giá thông qua việc quan sát từ thực tế thực tập.
5. Bố cục của đề tài: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về khách sạn, khách du lịch và chiến lược marketing
Chương 2: Thực trạng về hoạt động thu hút khách của khách sạn Citadines Blue Cove Danang
Chương 3: Đè xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động thu hút khách của khách sạn Citadines Blue Cove Danang


Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÁCH SẠN, KHÁCH DU LỊCH VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH ĐẾN KHÁCH SẠN

1.1. Cơ sở lý luận về khách sạn:

1.1.1. Khái niệm khách sạn:

Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh và Thạc sĩ Hoàng Thị Lan Hương (2009) thì khách sạn được định nghĩa như sau:
Thế nào là một khách sạn? Để đưa ra một định nghĩa về nó , chắc hẳn chúng ta phải bắt đầu từ việc tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của khách sạn, từ đó sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về khái niệm này.
Thuật ngữ “Hotel”- khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp. Vào thời trung cổ, nó được dung để chỉ những ngôi nhà sang trọng của các lãnh chúa. Từ khách sạn theo nghĩa hiện đại được dung ở Pháp vào cuối thế kỷ thứ XVIII, mãi đến cuối thế kỉ XIX mới được phổ biến ở các nước khác. Cở sở chính để phân biệt nhà trọ và khách sạn thời kỳ bấy giờ là sự hiện diện của các buồng ngủ riêng với đầy đủ tiện nghi bên trong hơn.
Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về số lượng lẫn chất lượng. Tại thủ đô của đất nước cũng như các thành phố lớn ở châu Âu, những khách sạn sang trọng (Palas) được xây dựng chủ yếu là để phục vụ tầng lớp thượng lưu. Song song với các khách sạn lớn là một hệ thống các khách sạn nhỏ được trang bị rất khiêm tốn cũng được hình thành. Do vậy có sự khách nhau trong phong cách phục vụ và cấp độ cung cấp dịch vụ trong các khách sạn. Sựn khác nhau còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở mỗi quốc gia. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến có sự tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về khách sạn. Chẳng hạn khi đưa ra các khái niệm về khách sạn, một số nước đã đưa ra những điều kiện rất riêng về số lượng buồng và các yêu cầu về trang thiết bị tiện nghi trong đó:
Ví dụ, ở vương quốc Bỉ định nghĩa: khách sạn phải có ít nhất từ 10 đến 15 buồng ngủ với các ửtiện nghi tối thiểu như phòng vệ sinh, máy điện thoại,… Hay ở Nam Tư cũ đã định nghĩa: khách sạn là một tòa nhà độc lập có ít nhất 15 buồng ngủ để cho thuê. Còn ở cộng hòa Pháp lại định nghĩa: khách sạn là một co sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ với các trang thiết bị tiện nghi nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách trong một thời gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên), có thể có nhà hàng. Khách sạn có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa.
Thực tế trong thời kỳ này, các quốc gia khi đưa ra quy định về khái niệm khách sạn là dựa trên điều kiện và mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở quốc gia mình.
Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 càng tạo ra sự khác biệt trong nội dung của khái niệm khách sạn. Nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie đã định nghĩa:
“ Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách. Cùng với các buồng ngủ còn có các nhà hàng với nhiều chủng loại khác nhau.”
Trong thông tư số 01/2002/TT –TCDL ngày 27/04/2001 của Tổng cục Du lịch về hưỡng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ – CP của chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch đã ghi rõ:
“ Khách sạn (Hotel) là công trình Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.”
Khoa Du lịch trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trong cuốn sách “Giải thích thuật ngữ du lịch và khách sạn” đã bổ sung một định nghĩa có tầm khái quát cao và có thể dduocj sử dụng trong học thuật và nhận biết về khách sạn ở Việt Nam:
“Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch”.
Theo nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách “Welcome to Hospitality” xuất bản năm 1995 thì:
“Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cung có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó. Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ( phòng ngủ và phòng tắm). Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến. Ngoài ra dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương mại( với thiết bị photocopy), nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí. Khách sạn có thể xây dung ở gần hoặc bên trong các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”.

Xem Thêm ==> Trọn bộ 5 bài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Buồng Tại Khách Sạn

1.1.2. Phân loại khách sạn:

Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh và Thạc sĩ Hoàng Thị Lan Hương (2009) thì khách sạn có những cách phân loại như sau :
a. Theo vị trí địa lý:
Theo tiêu chí này các khách sạn được phân thành 5 loại:
 Khách sạn thành phố (khách sạn công vụ) (City Centre Hotel):
Khách sạn thành phố được xây dựng ở trung tâm thành phố lớn, các trung tâm đô thị hoặc trung tâm đông dân cư nhằm phục vụ các đối tượng khách đi vì mục đích công vụ, tham gia vào các hội nghị, thể thao, thăm thân, mua sắm hoặc tham quan văn hóa.
 Khách sạn nghỉ dưỡng (Resort hotel):
Khách sạn nghỉ dưỡng được xây dựng ở những khu du lịch nghỉ dưỡng dựa vào nguồn tài nhiên thiên nhiên như các khách sạn nghỉ biển, các khách sạn nghỉ núi. Khách đến đây với mục đích nghỉ ngơi thư gian là chủ yếu (có số ít là khách nghiên cứu về môi trường sinh thái). Những khách sạn nghỉ dưỡng thường chịu sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu nên hoạt động theo thời vụ.
Khách sạn nghỉ dưỡng có thứ hạng cao ở nước ta thường tập trung ở các khu du lịch nghỉ biển như Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng,…
a. Khách sạn ven đô (Surbuban Hotel):
Khách sạn ven đô được xây dựng ở vên ngoại vi thành phố hoặc các trung tâm đô thị. Thị trường khách chính của các khách sạn này là khách đi nghỉ cuối tuần, đôi khi có cả khách công vụ có khả năng thanh toán trung binh hoặc thấp.
Ở Việt Nam khách sạn ven đô chưa có thứ hạng cao và chưa phát triển vì hệ thống cơ sở hạn tầng đường sá còn chưa thật tốt, việc đi lại mất nhiều thời gian, môi trường ở các khu ngoại thành bụi bặm,…
b. Khách sạn ven đường (Highway Hotel):
Khách sạn ven đường được xây dựng ở ven dọc các đường cao tốc (đường quốc lộ) nhằm phục vụ đối tượng khách đi lại trên đường quốc lộ sử dụng phương tiện vận chuyển là ô tô và mô tô (giống như loại hình Motel).
c. Khách sạn sân bay (Airport Hotel):
Khách sạn sân bay được xây dựng gần các sân bay quốc tế lớn. Đối tượng khách là những hành khách của các hãng hàng không dừng chân quá cảnh tại các sân bay quốc tế do lịch trình bắt buộc hoặc vì bất kỳ một lý do đột xuất nào khác.Giá phòng của các khách sạn sân bay trên thế giới thường nằm ngay trong giá gói của hãng hàng không.
1.1.2.1. Theo mức cung cấp dịch vụ:

Theo tiêu thức này các khách sạn được phân thành 4 loại:
a. Khách sạn sang trọng (Luxury Hotel):
Khách sạn sang trọng là khách sạn có thứ hạng cao nhất, tương ứng với khách sạn 5 sao ở Việt Nam. Là khách sạn với quy mô lớn, được trang bị bởi những trang thiết bị tiện nghi, đắt tiền, được trang hoàng đẹp. Cung cấp mức độ cao nhất về các dịch vụ bổ sung, đặc biệt là các dịch vụ bổ sung về phòng, dịch giải trí ngoài trời, dịch vụ thẩm mỹ (beauty salon, fitness centre,…), phòng họp,… Khách sạn này có diện tích của các khu vực sử dụng chung rất rộng, bãi đỗ lớn và bán sản phẩm của mình với mức giá cao nhất trong vùng.
b. Khách sạn với dịch vụ đầy đủ (Full Service Hotel):
Khách sạn với dịch vụ đầy đủ là những khách sạn bán sản phẩm ra với mức giá cao thứ hai trong vùng. Khách sạn loại này có thứ hạng tương ứng với khách sạn 4 sao tại Việt Nam. Thị trường khách của khách sạn này là đoạn thị trường có khả năng thanh toán khá cao. Ngoài ra các khách sạn cung cấp dịch vụ đầy đủ thường phải có bãi đỗ rộng, cung cấp dịch vụ ăn uống tại phòng, có nhà hàng và cung cấp một số dịch vụ bổ sung ngoài trời một cách hạn chế.
c. Khách sạn cung cấp số lượng hạn chế dịch vụ (Limited-service Hotel):

Đề tài khóa luận Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn, HAY
Đề tài khóa luận Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn, HAY

Loại khách sạn này đòi hỏi có quy mô trung bình và tương ứng với loại hình khách sạn 3 sao ở Việt Nam, là những khách sạn bán sản phẩm với mức giá cao thứ ba trong vùng và nhắm vào đối tượng khách có khả năng thanh toán trung bình. Những khách sạn này thường chỉ cung cấp một số lượng rất hạn chế về dịch vụ, trong đó những dịch vụ bắt buộc phải có ở đây là: dịch vụ ăn uống, một số dịch vụ bổ sung như giặt là, cung cấp thông tin và một sô dịch vụ khác, không nhất thiết phải có phòng họp và dịch vụ giải trí ngoài trời.
d. Khách sạn thứ hạng thấp (Economy hotel):
Loại hình khách sạn bình dân này là những khách sạn có quy mô nhỏ, thứ hạng thấp (1-2 sao) có mức giá buông bán ra ở mức độ thấp (dưới mức trung bình) trên thị trường. Những khách sạn này không nhất thiết phải có dịch vụ ăn uống, nhưng phải có một số dịch vụ bổ sung đi kèm với dịch vụ lưu trú như dịch vụ đánh thức khách vào buổi sang, giặt là, cung cấp thông tin

1.1.2.2. Phân loại theo mức giá bán sản phẩm lưu trú:

Chỉ được áp dụng riêng cho từng quốc gia vì nó phụ thuộc vào mức độ phát triển về hoạt động kinh doanh khách sạn ở mỗi nước. Để phân loại các doanh nghiệp khách sạn theo tiêu chí này, các chuyên gia phải khảo sát tất cả các khách sạn trong nước, nghiên cứu và ghi lại các mức giá bán buồng công bố trung bình của chúng rồi tạo nên một thước đo, trong đó: giới hạn trên của thước đo là mức bán giá buồng cao nhất của các khách sạn, còn giới hạn dưới của thước đo là mức bán giá buồng thấp nhất của các khách sạn trong quốc gia đó. Người ta chia thước đo thành 100 phần bằng nhau với đơn vị tính bằng tiền (VND hoặc USD). Với cách phân chia này khách sạn được chia làm năm loại:
a. Khách sạn sang trọng (Luxury Hotel):
Là những khách sạn có mức giá bán sản phẩm lưu trú ra ngoài thị trường nằm trong khoảng từ nấc thứ 85 trở lên trên thước đo. Như vậy hai tiêu chí phân loại khách sạn theo mức cung cấp dịch vụ và theo mức giá luôn được xem xét đồng đều cùng nhau.
b. Khách sạn có mức giá cao (Up-scale Hotel):
Là những khách sạn bán sản phẩm lưu trú ra ngoài thị trường ở mức giá tương đối cao, nằm trong khoảng 70-85 trên thước đo.
c. Khách sạn có mức giá trung bình (Mid-price Hotel):
Là những khách sạn bán sản phẩm lưu trú ra ngoài thị trường ở mức giá trung bình, nằm trong khoảng từ 40-70 trên thước đo.
d. Khách sạn có mức giá bình dân (Economy Hotel):
Là những khách sạn bán sản phẩm lưu trú ra ngoài thị trường ở mức giá tương đối thấp (dưới trung bình), nằm trong khoảng từ 20-40 trên thước đo.
e. Khách sạn có mức giá thấp nhất (Budget Hotel):
Là những khách sạn bán sản phẩm lưu trú ra ngoài thị trường ở mức giá thấp nhất, nằm trong khoảng từ 20 trở xuống trên thước đo.

1.1.2.3. Theo quy mô của khách sạn:

Dựa vào số lượng các buồng ngủ theo thiết kế của các khách sạn mà người ta phân khách sạn thành các loại sau đây:
– Khách sạn quy mô lớn.
– Khách sạn quy mô trung bình.
– Khách sạn quy mô nhỏ.
Tuy nhiên quy mô khách sạn lớn, vừa hay nhỏ phải có bao nhiêu buồng thiết kế là tùy thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở từng quốc gia khác nhau.
Ở Việt Nam các khách sạn được phân loại theo tiêu chí như sau:
– Khách sạn quy mô: là những khách sạn có số lượng buồng từ 200 trở lên.
– Khách sạn quy mô trung bình: là các khách sạn có số buồng thiết kế từ 50 đến cận 200.
– Khách sạn quy mô nhỏ: là các khách sạn có số buồng thiết kế dưới 50.

1.1.2.4. Theo hình thức sở hữu và quản lí:

Theo tiêu chí này thì ở Việt Nam chia thành 3 loại:
a. Khách sạn tư nhân:
Khách sạn tư nhân là những khách sạn có chủ đầu tư là một cá nhân hay một công ty trách nhiệm hữu hạn. Chủ đầu tư tự điều hành, quản lí, kinh doanh khách sạn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối cùng của khách sạn.
b. Khách sạn nhà nước:
Khách sạn nhà nước là những khách sạn có vốn đầu tư ban đầu là của nhà nước, do một tổ chức hay công ty quốc doanh chịu trách nhiệm và điều hành quản lý và trong quá trình kinh doanh phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối cùng của khách sạn. Theo tinh thần của nghị quyết Trung ương III của Đại hội Đảng cộng sản VIệt Nam lần thứ IX thì trong tương lai không xa loại hình doanh nghiệp này sẽ dần dần được chuyển sang loại hình doanh nghiệp chỉ có một chủ đầu tư (loại thứ nhất), hoặc có nhiều chủ đầu tư (doanh nghiệp cổ phần), trong đó nhà nước có thể là một cổ đông.
c. Khách sạn liên doanh:
Khách sạn liên doanh là những khách sạn do hai hoặc nhiều chủ đầu tư bỏ tiền ra xây dựng khách sạn mua sắm trang thiết bị. Về mặt quản lý có thể do hai hoặc nhiều đối tác tham gia điều hành quản lý khách sạn. Kết quả kinh doanh được chia theo tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng liên doanh liên kết.
Trên thực tế có nhiều loại khách sạn liên doanh liên kết: liên kết sở hữu, liên kết qurn lý, liên kết hỗn hợp.
– Liên kết về sở hữu gọi là các khách sạn cổ phần. Đó là các khách sạn do hai hay nhiều cá nhân hoặc hai hay nhiều tổ chức đầu tư xây dựng. Kết quả kinh doanh cuối cùng được chia theo tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư hoặc của các cổ đông.
– Khách sạn liên kết độc quyền (Franchise Hotel): là khách sạn tư nhân hoặc khách sạn cổ phần về sở hữu. Phía chủ đầu tư khách sạn (bên mua) phải tự điều hành quản lý khách sạn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối cùng của khách sạn. Bên mua thực hiện việc mua lại của một tập đoàn khách sạn (bên bán) quyền độc quyền sử dụng thương hiệu về một loại hình kinh doanh khách sạn của một tập đoàn tại một địa phương nhất định trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở của một bản hợp đồng có ghi rõ các quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên đối tác tham gia.
– Khách sạn hợp đồng quản lý (Management Contract Hotel): là khách sạn tư nhân hoặc khách sạn cổ phần về sở hữu. Khách sạn được điều hành quản lý bởi một nhóm các nahf quản lý do chủ đầu tư thuê của một tập đoàn khách sạn trên cơ sở của một bản hợp đồng gọi là hợp đồng quản lý.
– Liên kết hỗn hợp là khách sạn liên kết kết hợp các hình thức trên.

1.1.3 Hệ thống sản phẩm của khách sạn

Cô gửi em tài liệu trong sách của thầy Mạnh và cô Hương (2013), em bổ sung hệ thống sản phẩm của khách sạn, vì mình cần cho phần Product

1.2. Cơ sở lý luận về khách du lịch:

1.2.1. Khái niệm khách du lịch:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 và Điều 10 Luật Du lịch 2017 có quy định về khái niệm và phân loại của khách du lịch như sau:
– Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
– Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch
– Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
Ngoài ra còn có các định nghĩa khác về khách du lịch như định nghĩa của Hội nghị du lịch
quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là 3 tháng nếu trên 3 tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn.
Sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó để trở về hoặc đến nước khác; Khách du lịch nội địa là những người đi xa nhà với khoảng cách ít nhất là 50 dặm vì các lý do khác nhau trừ khả năng thay đổi chỗ làm việc trong khoảng thời gian cùng ngày hoặc qua đêm”.
Nhà kinh tế học người Áo – Jozep Stemder – định nghĩa: “Khách du lịch là những người đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên, để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”.
Nhà kinh tế người Anh – Olgilvi khẳng định rằng: “Để trở thành khách du lịch cần có hai điều kiện sau: thứ nhất phải xa nhà một thời gian dưới một năm; thứ hai là phải dùng những khoản tiền kiếm được ở nơi khác”.
Định nghĩa khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”.

1.2.2. Phân loại khách du lịch:

a. Theo mục đích chuyến đi:
Theo cách phân loại này, khách du lịch có 3 nhóm:
– Khách giải trí, nghỉ ngơi;
Những người đi du lịch theo loại hình này nhằm mục đích tách khỏi sự căng thẳng, đơn điệu của công việc hàng ngày, tìm kiếm sự thư giãn thoái mái thông qua các hoạt động giải trí ở điểm đến du lịch.
Nhóm khách du lịch đi du lịch với mục đích giải trí, nghỉ ngơi có đặc điểm chung là: họ lựa chọn các điểm đến phù hợp với sở thích của họ hưởng thụ các giá trị văn hoá, cảnh quan thiên nhiên hoặc các điểm du lịch nổi tiếng, thích sự yên tĩnh, thơ mộng ở nới du lịch, họ thường đến những bờ biển đẹp, tắm dưới ánh nắng mặt trời, tham gia vào các hoạt động như cắm trại, vui đùa trên biển, đi dạo, các trò chơi có tổ chức và học các kỹ năng mới. Ngoài ra thì họ còn thích các phương tiện vận chuyển tiện nghi, thoải mái và nhanh chóng. Bên cạnh đó có thể thấy rằng họ ít trung thành với các điểm đến du lịch, tính thời vụ thể hiện rõ (họ thường đi du lịch vào các kỳ nghỉ hoặc khi thời tiết thuận lợi); quyết định lựa chọn điểm đến của họ khá nhạy cảm với giá cả; thời gian dành cho chuyến đi thường dài; có thể họ thường đến nhiều điểm khác nhau trong một chuyến đi.
– Khách kinh doanh và công vụ;
Đối với nhóm khách du lịch công vụ: mục đích chính cho chuyến đi của họ là thục hiện một công việc nào đó (kinh doanh, hội nghị, tham dự hội chợ, triển lãm…), tuy nhiên, trong các chuyến đi đó họ thường kết hợp tham quan, nghỉ ngoi…; việc lựa chọn phương tiện giao thông, loại hình lưu trú, thời gian lưu lại… phụ thuộc vào loại công việc của họ; họ ít chịu sự chi phối của biến động giá cả các sản phẩm du lịch; mức chi tiêu của họ cao.
– Khách thăm viếng bạn bè, người thân (thăm thân).
Nhóm khách du lịch thăm thân có đặc điểm là: thời gian lưu lại không dài, ít nhạy cảm với giá cả, việc kết hợp tham quan các điểm du lịch ít khi được xác định trước.
 Trong 3 nhóm khách nêu trên, nhóm thứ nhất thưòng chiếm tỷ trọng cao nhất.

Xem Thêm ==> Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ khách sạn – Cơ sở lý luận
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2004, tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam đi du lịch theo mục đích giải trí, nghỉ ngơi chiếm 52,2%, kinh doanh chiếm 19,5%, thăm thân và mục chiếm 28,3%.
b. Theo hình thức tổ chức chuyến đi:
Với phân loại hình thức tổ cức chuyến đi thì khách được chia làm 2 loại:
– Khách đi du lịch riêng lẻ: là những khách du lịch tự sắp xếp, tổ chức trong chuyến đi du lịch của mình mà không qua một tổ chức nào. Những khách du lịch này thường thích các chương trình du lịch độc lập, mạo hiểm, khi tiêu dung các sản phẩm của khách sạn thích sự tự do thoải mái,…
– Khách du lịch đi theo đoàn: là những khách đi thường đi du lịch thông qua các tổ chức lữ hành hay các tổ chức cơ quan, xí nghiệp . Họ là những khách tiêu dung số lượng lớn sản phẩm dịch vụ của khách sạn nên khách sạn phải rất quan tâm đến đôi tượng khách này.
c. Theo quốc tịch:
Vài năm trở lại đây, lượng khách Hàn Quốc đến Việt Nam tăng đột biến. Địa điểm hút khách chủ yếu là các tỉnh ven biển miền Trung, đặc biệt là Đà Nẵng. Sau một thời gian đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, tháng đầu năm 2019, Hàn Quốc đã lần đầu tiên vượt qua Trung Quốc, vươn lên trở thành quốc gia có lượng khách đến Việt Nam nhiều nhất. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lượng du khách đến từ Hàn Quốc trong tháng 1 đạt 389.000 lượt, tăng 23%. Tính tổng 2 tháng đầu năm, lượng du khách Hàn Quốc đến Việt Nam đã đạt 772.200 lượt người, tăng 24,6%.
Theo số liệu của Sở Du lịch TP.Đà Nẵng, năm 2017, địa phương này đã đón tới 1,3 triệu lượt khách Hàn, tăng gần 100% so với cùng kỳ năm trước. Du khách Hàn đến Đà Nẵng tăng trưởng tới hơn 80% trong năm 2018, “vượt mặt” số lượng khách Trung Quốc – tăng 30%.

Từ những số liệu thực tế đó có thể thấy rằng hai thị trường khách chủ yếu mà ta cần tập trung phát triển hiện nay chính là khách Hàn Quốc và khách Trung Quốc:

– Khách Hàn Quốc: Theo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, khách du lịch Hàn Quốc có những đặc điểm sau:
• Một số hoạt động ưa thích bao gồm:
+ Tham quan các địa danh lịch sử, bảo tàng hoặc phòng triễn lãm nghệ thuật.
+ Hoạt động dành cho trẻ em.
+ Thư giãn tại các bãi biển hoặc bể bơi.
+ Thăm thân ở nơi đến.
• Những điều tạo cảm hứng cho khách du lịch Hàn Quốc: Họ mong muốn làm mới những kỳ nghỉ gia đình, muốn được tận hưởng cảm giác hạnh phúc, thoải mái, thư giãn. Du lịch tạo cơ hội cho con cái học hỏi cũng là một điểm thu hút phân đoạn này. Họ muốn được trải nghiệm nhiều khía cạnh của cuộc sống.
• Đặc tính khi đi du lịch của người Hàn Quốc:
+ Thường đi du lịch theo nhóm hoặc mua tour thiết kế riêng.
+ Đi với gia đình, vợ chồng và con cái, chi nhiều tiền để nghỉ ở khách sạn hơn so với các phân đoạn khác.
+ Thường lưu trú tại các khách sạn hạng trung đến hạng sang ( 3 sao trở lên).
+ Khách du lịch tìm kiếm sự thoải mái, thư giãn.
+ Họ là những người chưa biết nhiều về thế giới nên muốn được trải nghiệm càng nhiều càng tốt trong chuyến du lịch.
+ Họ không có tự tin khi đến nơi mới. Họ thích đến những địa danh nổi tiếng, nhiều người biết đến.
+ Họ muốn đến những nơi an toàn và quan tâm đến việc điểm đến có bị khủng bố đe dọa không. Họ thoải mái hơn khi có hướng dẫn viên đi cùng để giúp cho việc giao tiếp. Đó là lý do họ thích đi du lịch theo nhóm hơn.
+ Khi đi du lịch thường mua những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, những thực phẩm chức năng tốt cho sức khỏe, mỹ phẩm làm đẹp, họ sẵn sang chi trả cho mặt hàng có chất lượng cao.
+ Mùa đi du lịch của khách Hàn Quốc dàn đều,tuy nhiên du khách đông hơn vào các tháng 1, tháng 7 và tháng 8.
– Khách Trung Quốc: Theo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, khách du lịch Trung Quốc có những đặc điểm sau:
• Một số đặc trưng về văn hóa:
Người Trung Quốc Thích đi du ngoạn, thăm thú những nơi có phong cảnh đẹp, địa danh nổi tiếng gắn với những sự kiện lịch sử, danh nhân thế giới.
Người Trung Quốc rất coi trọng văn hóa ảm thực, số lượng thức ăn nhiều cho mỗi bữa ăn. Phong cách ẩm thực chia theo bốn vùng chính: Bắc Kinh, Thượng Hải, Tứ Xuyên.
Người Trung Quốc thích màu đỏ và vàng. Màu đỏ mang lại may mắn, thể hiện sự vui sướng, nồng nhiệt, sức mạnh, danh vọng,.. Màu vàng thể hiện quyền uy, giàu sang, phú quý.
Người Trung Quốc thích các đề tài về lịch sử, văn hóa, gia diình, thích được tôn vinh .
Người Trung Quốc có tính cộng đồng cao, ít độc lập nh người chau Âu, thường bị ảnh hưởng bở đám đông, nhóm đi cùng.
Người Trung Quốc coi trọng hình thức, mong muốn được đối đãi bằng sự nhiệt tình, các nghi thức, nghi lễ để có cảm giác được tôn trọng. Đi du lịch nước ngoài, mua sắm sử dụng hàng hiệu là một hình thức để thể hiện mình.
Người tiêu dùng Trung Quốc rát nhạy cảm và quan tâm đến chất lượng dịch vụ của mình và cũng rất tinh tường khi mua sắm, trả giá hàng hóa.
• Một số đặc điểm về giới tính, độ tuổi:
Khách du lịch Trung Quốc là nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới (nam chiếm 45,2%, nữ chiếm 54,8% , chênh nhau khoảng 5%).
Khách Trung Quốc trong độ tuổi từ 26-55 chiếm 70% tổng lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam. Khách du lịch tập trung vào lứa tuổi này vì họ đã có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có nhu cầu tìm hiểu, mở rộng thế giới.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

Trên đây là đề tài khóa luận Hoạt Động Thu Hút Khách Đến Khách Sạn mà Baocaothuctap.net muốn chia sẻ với các bạn sinh viên đang tìm kiếm đê tài cho khóa luận của mình. Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài khác, các bạn vào trang website: Baocaothuctap.net để tham khảo nhe !

Ngoài ra hiện nay, Baocaothuctap.nethỗ trợ viết báo cáo thực tập, luận văn, tiểu luận, khóa luận trọn gói, dành cho những bạn muốn làm bài mới hoặc không có thời gian để đầu tư vào bài của mình, thì liên hệ mình với sđt / zalo: 0909232620

 

Contact Me on Zalo